Các biện pháp phi thuế quan trong chính sách ngoại thương của Nhật Bản


1. Hạn ngạch nhập khẩu.


Hạn ngạch nhập khẩu là sự hạn chế trực tiếp về khối lượng hoặc giá trị nhập khẩu của các loại hàng hóa nhất định được phép mang từ nước ngoài vào trong moottj thời gian nhất định thường là một năm. Hạn ngạch nhập khẩu tính toán trên cơ sỏ dự đoán nhu cầu và khả năng sản xuất của các doanh nghiệp trong nước. Vào đầu và giữa năm tài chính, Bộ trưởng Bộ Thương mại (MITI) sẽ phê chuẩn những mặt hàng nhập khẩu hạn ngạch được ghi trong giấy thông báo nhập khẩu qui định trình tự cac bước để xin hạn ngạch cho một hay một nhóm mặt hàng. Khi nhập khẩu một mặt hàng theo hạn ngạch, nàh nhập khẩu sẽ không được cấp giấy phép của ngân hàng quản lý ngoại hối hay các cơ quan khác nếu họ chưa xin được hạn ngạch của Bộ Công Nghiệp và Thương Mại.


Hiện nay, ở Nhật Bản có 66 mặt hàng thuộc hạn ngạch nhập khẩu và hạn ngạch của một mặt hàng hay một nhóm hàng được phân chia cho các nhà nhập khẩu trong giới hạn của tổng hạn ngạch theo một trong các chế độ sau:


Chế độ theo dõi việc phân bố hạn ngạch nhập khẩu: hạn ngạch phân bố căn cứ vào tỷ lệ hạn ngạch của nhà nhập khẩu trong một thời kỳ cụ thể trong quá khứ so với tổng giá trị giá hay số lượng hạn ngạch của một mặt hàng hay một nhóm hàng.

Chế độ theo dõi việc thông quan: việc phân bố că cứ vào tổng số lượng hạn ngạch hay giá trị hạn ngạch dự tính hoặc đã thực hiện trong thời gian trước.

Chế độ thông báo chính thức: việc phân bố căn cứ vào số lượng hay trợ giá hạn ngạch tối đa do các cơ quan nhà nước phân trước cho các nhà nhập khẩu. Mức hạn ngạch được quyết định trước này được quy định trong các thông báo chính thức gửi cho các nhà nhập khẩu.

Chế độ theo đơn đặt hàng: hạn ngạch được phân bố căn cứ vào số lượng hay giá trị hàng được đặt mua bởi người tiêu dùng cuối cùng.

Chế độ theo dầu doah nghiệp: là chế độ theo đó số lượng hoặc trị giá hạn ngạch được phân bố bình đẳng cho các nhà nhập khẩu, Chế độ này thường được dùng đi đôi với một trong hai chế độ theo dõi nói trên.

Chế độ ai xin trước được trước: hạn ngạch được phân bố theo nguyên tắc ai xin trước được trước cho đến khi đạt đến một nửa số lượng hay gia trị qui định.

Chế độ thống nhất ý kiến của các quan chức về phân bố hạn ngạch: theo chế độ này, các quan chức Bộ Công Nghiệp và Thương mại và các Bộ bàn bạc để quyết định hạn ngạch phân bố cho các nhà nhập khẩu.

2. Những hạn chế xuất khẩu tự nguyện


Hạn chế xuất khẩu tự nguyện(VER) là thỏa thuận theo đó một nước đồng ý hạn chế xuất khẩu sang nước khác đối với một mặt hàng xác định, với một mức tối đa trong khoảng một thời gian nào đó. Hay nói cách khác hạn chế xuất khẩu tự nguyện chấp nhận nhằm ngăn chặn trước những mối đe dọa lớn hơn với những hạn chế khác đối với thương mại của mình.


Xét về hình thức, VER cũng giống như hạn ngạch nhâp khẩu, đều làm giảm khối lượng trao đổi maauk dịch và làm giá cả hàng hóa tăng lên theo quy định luật cung cầu. Tuy nhiên, xét về lợi ích đối với nước xuất khẩu VER sẽ có lợi hơn vì mặc dù số lượng xuất khẩu bị hạn chế nhưng giá cả hàng hóa lại tăng lên và phần thu nhập tăng them này các nàh xuất khẩu sẽ nhận được, trái ngược với hạn ngạch xuất khẩu, phần thu tăng them thuộc về các nhà nhập khẩu. Chính vì vậy, chính phủ Nhật trong các cuộc thương thuyết để giải quyết vấn đề mâu thuẫn mậu dịch đã cố gắng ký được các hiệp định về VER thay cho việc để các nước bạn hàng ban hành các hàng rào mậu dịch.


Nếu như trước đây, Nhật chỉ phải thực hiện VER đối với các sản phẩm dệt và một số mặt hàng sử dụng nhiều lao động do có nhưng mâu thuẫnmậu dịch này sinh thì đến nay, Nhật đã thực hiện VER đối với rất nhiều loại hàng hóa xuất khẩu sang các thhij trường Mỹ và Tây Âu nhưu các sản phẩm sắt thép, nhiều loại sản phẩm máy móc công nghiệp, ô tô, tivi màu và đầu video…. Trong đó , tự nguyện hạn chế xuất khẩu ô tô sang thị trường Mỹ là một trong những ví dụ điển hình. Đứng trước nguy cơ bị phá sản vì không thể cạnh tranh nổi các loại ô tô chất lượng cao vì tiêu tốn ít nhiên liệu của Nhật, các nhà sản xuất ô tô Mỹ đã đấu tranh đồi chính phủ phải có những chính sách bảo hộ và kết quả sau cuộc thương lượng, Nhật đã chấp nhận thực hiện VER đối vơi các loại ô tô xuát khẩu sang Mỹ. Thực hiện VER có lợi cho nhà sản xuất thì gây thiệt thòi cho người tiêu dùng vì phải chịu gái ô tô tăng lên.


Theo yêu cầu của chính phủ nước ngoài chính phủ Nhật đã trực tiếp điều hành việc phân phôi VER cho các ngành công nghieepjj và các công ty trong nước. Tổng hạn ngạch xuất khẩu sau khi thương lượng với các nước bạn hàng sẽ được phân phối co các công ty xuất khẩu. Một số VER được ban hành bởi MITI dựa trên cơ sỏ của Luật quản lý thương mại, nhưng rất nhiều VER cúng được thực hiện thông qua sự hướng dẫn hành chính của MITI và sự phân phối giữa các ngành có lien quan. Việc phân phối ghạn ngạch xuất khẩu cố định chho các nhà xuất khẩu sẽ làm giảm cạnh tranh, giũ gái cả ở mức cao làm tổn hại đến người tiêu dùng và những ngành công nghiệp trong nước sủ dụng nững sản phẩm trung gian được sản xuất theo VER làm nguyên liệu đầu vào để sản xuất các sản phẩm.


Tuy nhiên, VER chỉ là giải pháp tạm thời và không hiêu quả. Nó có tểh giúp làm tăng khối lượng thặng dư mậu dịch hoặc bóp méo quá trình tự do mậu dịch dẫn đến giảm hiệu quả trong việc phân phối các nguồn tài nguyên quôc gia và quốc tế. từ đó dẫn đến ngày càng nhiều các công ty Nhật tăng cường đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm chuyển các hoạt động sản xuất để xuất khẩu hoặc trực tiếp sang thị trường xuất khẩu hoặc sang các nước thứu ba mà từu đó sản phẩm sẽ được xuất khẩu sang thị trường nước khác. Theo thống kê 1990, trong khi xuất khẩu ô tô Nhật theo VER sang Mỹ đã giảm xuống duwois 2, 4 triệu xe nhưng sản xuât ô tô của Nhật ở thị trường Mỹ và các nước đã lên tới 1,7 triệu xe.


VER là biện pháp hạn chế thương mại nằm ngoài phạm vi nguyên tắc của GATT và việc hủy bỏ VER đã được thảo luận tại vòng đàm phán Uragoay về cá thương thuyết mậu dịch đa phương. Sau vòng đàm phán này, hầu hết các hiệp định VER của Nhật đã được hủy bỏ. Ví dụ, VER đã được dỡ bỏ đối với thép và các sản phẩm thép vào 3-1992, máy công cụ 12-1993…


3. Các hạn ngạch hạn chế nhập khẩu khác:


Ngoài các chế độ hanj ngạch nói trên, Nhật còn có một số chế độ khác như:


Chế độ cho phép nhập khẩu: là chế độ theo đó người nhập khẩu muốn nhập khẩu phải được sựu đồng ý của các tỉnh nhập hàng, hàng nhập khẩu có định mức được quy định trong nguyên tắc chi tiết của Luật quản lý thương mại.


Chế độ định mức nhập khẩu phối hợp : chế độ này căn cứ vào mối quan hệ cung cầu trong nước để hạn chế số lượng hoắc giá trị của hàng hóa nhập khẩu.


Chế đọ báo cáo nhập khẩu: chế độ này được quy đinh cũng nhằm đẻ hạn chế số lượng hoặc giá trị nhập khẩu.


4. Giấy phép nhập khẩu


Trong hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu của WTO, giấy phép nhập khẩu được coi là thủ tục hành chính của chế độ cấp giấy phép nhập khẩu. Hiệp định này đòi hỏi hệ thống giấy phép nhập khẩu phải rõ ràng và dự đoán trước được, đồng thời các bên phải công bố cho các thương nhân những thông tin đầy đủ về các loại giấy phép được cấp. thời hạn tối đa cho các cơ quan quốc gia xem xét đươn xin phép nhập khẩu là 60 ngày


Ở Nhật, tuy hầu hết hàng nhập khẩu không cần giấy phép nhập khẩu của MITI nhwung các mặt hàng sau vẫn phải có giấy phép nhập khẩu:


Hàng hóa nằm trong 66 mặt hàng liệt kê trong htoong bao nhập khẩu thuộc diện có hạn ngạch nhập khẩu.


Hàng hóa sản xuất hay vận chuyển từ các quốc gia, khu vực quy định trong thông báo nhập khẩu đòi hỏi phải có giấy phép nhập khẩu.


Hàng hóa đòi hỏi phương thức thanh toán đặc biệt.


Hàng hóa đòi hởi sự xác nhận của hải quan về nhập khẩu hay sự xác nhận của một số Bộ, các nhà nhập khẩu được toàn quyền ký hợp đồng với các nhà xuất khẩu, nhưng việc đăng ký và thực hiện hợp đồng phụ thuộc vào sự cho phép hay xác nhận của các Bộ phận liên quan.


Việc thanh toán hàng nhập khẩu cần giấy phép chỉ có thể thực hiện sau khi giấy phép nhập khẩu đã được cấp.


5. Chế độ hạn ngạch thuế


Là chế độ được quy định trong đó áp dụng mức thuế bằng 0 hoặc thấp đối với những hàng hóa được nhập khẩu theo đúng một số lượng qui định nhằm đảm bảo cung cấp những hàng háo với gía rẻ cho người tiêu dùng. Khi hàng hóa nhập khẩu vượt quá số lượng qui định đó thì sẽ áp dụng mức thuế cao (thuế lần 2) để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước.


Có nhiều cách để xác định mức thuế lần 1 nhưng hiện nay Nhật phương pháp phổ biến là lấy số lượng dựu đoán nhu cầu trong nước trừ đi số lượng dự đoán sản xuất trong nước.


Khi Nhật thực hiện tự do hóa thương mại thì chế độ hạn ngạch thuế được sử dụng như là biện pháp mang tính quá độ nhằm làm giảm xung đột gay gắt của sản xuát trong nước và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự do hóa. So với qui định hạn ngạch nhập khẩu, theo đó chỉ cho phép nhập khẩu trong một số lượng nhất định thì theo chế độ hạn ngạch thuế, nhà nhập khẩu vẫn có thể nhập khẩu vượt quá số lượng qui định, nhưng phải chịu mức thuế suất lần 2 đối với phần vượt đó. Theo nguyên tắc GATT, các nước thành viên không được sử dụng chế độ hạn ngạch nhập nhẩu nhưng lại thừa nhận chế độ hạn ngạch thuế với điều kiện không có sự phân biệt đối với từng nước.


Chế độ hạn ngạch này được xây dựng trên sự đảm bảo cân bằng giữa mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng và mục tiêu bảo hộ nhà sản xuất trong nước. Chính vì vậy, đối với mỗi danh mục hàng hóa chính phủ đều phải nghiên cứu ưu và nhược điểm của việc vận dụng chế độ hạn ngạch này căn cứ trên việc xem xét đến tình hình cung cầu, thời hạn áp dụng phù hợp để thúc đẩy mậu dịch tự do.


6. Các biện pháp hành chính kỹ thuật hạn chế nhập khẩu


Đây là nhóm biện pháp nhằm gián tiếp ngăn cản, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu ra nước ngoài và từ nước ngoài vào. Tùy thuộc mỗi nước mà có các biện pháp hành chính kỹ thuật khác nhau được đưa ra để kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu.


Thị trường Nhật luôn là 1 thị trường có nhiều điểm khác biệt mang tính đặc trưng so với thị trường các nước khác. Trong buôn bán, giá cả có thể là rất quan trọng, nhưng ở thị trường Nhật, chất lượng là yếu tố được quan tâm hàng đầu. Ngay cả khi mua một mặt hàng rẻ tiền thì người Nhật cũng vẫn rất quan tâm tới chất lượng hàng đó. Nhìn chung, tiêu chuẩn chất lượng và độ an toàn của hàng hóa của Nhật Bản cao hơn và chặt chẽ hơn so với yêu cầu quốc tế và thông thường, hàng hóa nước ngaoif muốn xâm nhập thị trường Nhật thì trước hết phải đáp ứng được những tiêu chuẩn này.


Hiện nay, hệ thống dấu chất lượng ở Nhật bao gồm nhiều loại qui định cho những hàng hóa khác nhau, trong đó hai dấu chứng nhận chất lượng được sử dụng phổ biến nhất là dấu chứng nhận tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản( JAS) và dấu chứng nhận công nghiệp Nhật Bản( JIS ).


6.1 Dấu JAS(tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản):


Luật về tiêu chuẩn háo các nông lâm sản và hợp lý hóa các nhãn hiệu chất lượng thường được gọi là Luật tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản hay Luật JAS. Luật này qui định các tiêu chuẩn về chất lượng, đưa ra các qui tắc về việc ghi nhãn chất lượng và đóng dấu chất lượng tiêu chuẩn JAS. Các qui định áp dụng đối với các sản phẩm phát hành theo định kỳ. Các qui định này xác định phạm vi áp dụng của pháp luật, nêu ra định nghĩa về các sản phẩm tiêu chuẩn JAS, xác định các tiêu chuẩn về chất lượng cần được thỏa mãn và các phương pháp đánh giá chất lượng.


Việc sử dụng dấu chứng nhận phẩm chất JAS trên nhãn hiệu sản phẩm là tự nguyện và các nhà sản xuất cũng như những nguời bán lẻ không bị bắt buộc phải sản xuất hay kinh doanh các sản phẩm có tiêu chuẩn chất lượng JAS. Tuy nhiên, việc ghi nhãn sản phẩm là bắt buộc đối với sản phẩm do Bộ nông- lâm- ngư – nghiệp qui định. Các nhà sản xuất muốn dán nhãn hiệu chất lượng JAS lên các sản phẩm của họ thì phải thông qua các tổ chức giám định để đánh giá chất lượng của hàng hóa đó.


Danh sách các sản phẩm được điều chỉnh bởi luật JAS bao gồm: đồ uống, thực phẩm chế biến, dầu ăn và mỡ, các nông lâm thủy sản chế biến. Đa số các sản phẩm như thực phẩm đóng hộp, nước rau quả, sản phẩm chế biến từ cà chua, dăm bông ….. được sản xuất tại Nhật đều mang dấu chất lượng Nhật.


Các sản phẩm nhập khẩu cũng có thể được cung cấp dấu chứng nhận phẩm chất JAS nếu họ đạt các tiêu chuẩn do JAS đề ra. Việc giám định các tieu chuẩn này có thể lấy kết quả của các tổ chức giám định nước ngoài do Bộ trưởng Bộ nông- lâm- ngư nghiệp chỉ định.


6.2 Dấu JIS (tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản):


Cũng tương tự như JAS nhưng là áp dụng đối với tất cả các sản phẩm công nghiệp và khoáng sản như vải, quần áo, lò sưởi, các thiết bị điện,… đòi hỏi phải được tiêu chuẩn hóa về chất lượng và kích cỡ hay các qui cách phẩm chất khác. Dấu này lần đầu được áp dụng để tạo ra một chuẩn mực về chất lượng cho các sản phẩm xuất khẩu khi Nhật bắt đầu bán sản phẩm của mình ra nước ngoài.


Dấu chứng nhận JIS chỉ được áp dụng đối với những sản phẩm thỏa mãn các yêu cầu về chất lượng của JIS. Do đó khi kinh doanh các sản phẩm này chỉ cần kiểm tra dấu chất lượng tiêu chuẩn JIS là đủ để xác nhận chất lượng của chúng và người tiêu dùng Nhật cũng thích chọn những sản phẩm có đóng dấu chất lượng JIS.


Ngoài 2 loại dấu chứng nhận phẩm chất trên, ở Nhật còn có 1 số loại dấu chứng nhận phẩm chất khác, trong đó có những dấu mang tính chất bắt buộc như dấu S và những dấu mang tính chất tự nguyện như dấu G, Q là 2 loại dấu chuyên ngành hiện đang sử dụng rộng rãi.


Dấu S được cấp cho sản phẩm có đủ dộ an toàn, dùng cho nhiều chủng loại hàng hóa dành cho trẻ em, đồ dùng gia đình, dụng cụ thể thao.


Dấu G được áp dụng đối với các sản phẩm có thiết kế đạt tiên chuẩn. Các sản phẩm được đóng dấu này được bộ phận giám định thiết kế của MITI lựa chọn trên cơ sở độ an toàn, độ bền, màu sắc và dặc tính khác cùng với thiết kế. Các đồ gia dụng được lựa chọn để mang dấu chất lượng thiết kế là các sản phẩm dệt như rềm cửa, chăn, đồ nội thất…..Hiện nay có khoảng 500 sản phẩm được cấp dấu G.


Dấu Q được áp dụng đối với các sản phẩm dệt có chất lượng cao. Dấu này được Viện giám định các sản phẩm dệt của MITI cấp sau khi tiến hành các cuộc giám định chất lượng đối với sản phẩm. ban đầu dấu Q chỉ được cấp cho sản phẩm quần áo trẻ em, về sau dấu này được cấp cho các loại sản phẩm phải trải qua rất nhiều cuộc kiểm tra về các đặc tính khác nhau như độ bền, độ co, độ phai và chất lượng của thiết kế.


Bên cạnh đó còn có những loại dấu khác có quy cách phẩm chất như của dấu JIS chẳng hạn như dấu “Len” .


Ở Nhật có nhiều dấu chất lượng khác nhau, do các cơ quan của chính phủ hoặc các tổ chưc giám định đặt ra. Trong 1 số trường hợp các dấu này trùng nhau và 1 số sản phẩm có thể cùng một lúc mang nhiều hơn một dấu.


Người Nhật có thói quen đưa ra quyết định mua hàng căn cứ vào dấu chất lượng trên bao bì vì họ choi đó như là sự đảm bảo độ tin cậy về chất lượng hàng hóa được mua. Nhiều nàh xuất khẩu hay sản xuất ra nước ngoài tại Nhạt cho rằng nhwungx tiêu chuẩn nguwoif Nhật đề ra là quá cao và việc đáp ứng những tiêu chuẩn đoa là không thể được vì quá tốn kém. Ngược lại nhiều nhà sản xuất nhận thức là phải đáp ứng đưuọc những tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng và độ an toàn của hàng hóa đối với người tiêu dùng Nhật và họ đã đạt được kết quả kinh doanh tốt.


7. Keiretsu (Hệ thống)


Keiretsu là một hệ thống kinh tế và tổ chức kinh doanh kiểu Nhật Bản và thường được hiểu là các tổ hợp hay tập đoàn công nghiệp khổng lồ của Nhật Bản. Nó được thành lập vào đầu những năm 60, khi các thị trường chứng khoán của Nhật Bản trở nên rất yếu kém. Các cổ phiếu của các công ty lớn lâm vào tình trạng ế ẩm, giá tụt xuống rất nhanh. Họ đang trong tình trạng có thể bị các đối thủ mạnh khác giành quyền kiểm soát. Theo đó, việc ra đời các tập đoàn này là một biện pháp đối phó hợp lý cho sự tồn tại của họ.


Trong nền kinh tế Nhật Bản hiện nay có 8 tập đoàn lớn được xếp vào Keiretsu bao gồm: Mitsubishi, Mitsu, Sumitomo, Fuyo, DKB, Sanwa, Tokai vài IBJ. Các tập đoàn này được tổ chức xoay quanh các ngân hàng và các tổng công ty thương nghiệp. Các công ty thành viên của mỗi tập đoàn được liên kết với nhau qua 3 yếu tố then chốt, đó là:


– Nắm chéo các cổ phần của nhau.


– Các mối quan hệ nhân sự.


– Vấn đề tài chính bên trong.


Việc nắm giữ cổ phần đan xen, chiếm một số vốn lớn gần 35% toàn bộ số vốn của nền kinh tế Nhật Bản cùng đội ngũ quản lý điều hành công việc với mục tiêu tạo ra lợi nhuận tối đa trong một thời gian dài đã cho phép các tập đoàn này khống chế thị trường trong thời kỳ mở rộng kinh tế, thủ tiêu cạnh tranh trong các thời kỳ suy thoái, bảo vệ lẫn nhau khỏi sự phá sản và thoát ra khỏi mối đe dọa bị mất quyền kiểm soát cạnh tranh. Các mạng lưới phân phối của Keiretsu còn cho phép kiểm soát giá bán lẻ. Chính vì vậy trung bình mỗi người tiêu dùng phương Tây đối với các sản phẩm cùng loại.


Keiretsu là một trong số những đặc trương nhất của nền kinh tế Nhật Bản và đã cung cấp một sự cạnh tranh sắc bén mà các nước khác không thể dịch được, nó tạo ra một hàng rào ngăn cản mậu dịch chính cho các bạn hàng nước ngoài thâm nhập vào thị trường Nhật Bản.


8. Hệ thống phân phối của Nhật Bản


Đóng góp vào sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Nhật Bản sau chiến tranh có nhiều yếu tố khác nhau đặc trưng của nền kinh tế Nhật mà các nước khác không có như Keiretsu, hệ thống phân phối ….


Hệ thống phân phối bao gồm tât cả các khâu mà thông qua đó sản phẩm được đưa từ sản xuất đến tay người tiêu dùng. Hệ thống phân phối Nhật Bản hết sức phức tạp, có các đặc điểm chủ yếu sau phân biệt với hệ thống phân phối của các nước khác:


– Có nhiều cửa hàng bán lẻ. Nói cách khác, mật độ cửa hàng bán lẻ rất đông


– Giữa nhà chế tạo và các nhà bán lẻ tồn tại rất nhiều cấp phân phối trung gian


– Tồn tại hệ thống duy trì giá bán lẻ


– Giữa nhà sản xuất và nhà bán lẻ có sự câu kết chặt chẽ, thể hiện ở chỗ : các nhà sản xuất sẽ cung cấp vốn cho các nhà bán buôn, các nhà bán buôn lại cung cấp trài chính cho các nhà bán lẻ, các nhà sản xuất thực hiện chế độ chiết khấu hoa hồng thường xuyên và rộng rãi, sẵn sàng mua lại hàng hóa nếu không bán được … Các nhà bán lẻ thường chỉ kinh doanh một số hàng hóa hóa của các nhà sản xuất nhất định. Không kinh doanh các hàng hóa của các nhà sản xuất khác kể cả các nhà sản xuất trong nước. Mối quan hệ giữa các nhà sản xuất với các nhà phân phối, bán lẻ rất khăng khít, bền vững khiến cho hàng hóa nước ngoài rất khó thâm nhập thị trường Nhật Bản và mở rộng đại lý tiêu thụ hàng.


– Hệ thồng này đã quyên góp phần bảo hộ cho những sản phẩm sản xuất trong một thời gian khi những sản phẩm này chưa đủ sức cạnh tranh nhưng dần dần cùng với suwyj thay đổi của tình hình trong, ngoài nước, nó đã bộc lộ nhiều hạn chế mà nếu tiếp tục duy trì, không thay đổi thì nhất định sẽ ảnh hưởng xấu tới kinh tế như làm cho giá hàng hóa đăt lên nhiều lần khi tới tay người tiêu dùng. GIảm bớt tính minh bạch của việc định giá, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, đặc biệt là chắc chắn vấp phải sự phản kháng của các nhà kinh doanh nước ngoài.


Kể từ khi nền kinh tế bong bóng sụp đổ vào cuối những năm 80 làm cho việc sản xuất cũng như tiêu thụ gặp nhiều khó khăn cùng với những tác động từ bên ngoài như quốc tế hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giời diễn ra ngày càng mạnh mẽ, mâu thuẫn với các nước bạn hàng tăng do mất cân đối trong mậu dịch buôn bán … điều đó đòi hỏi muốn tiếp tục tăng trưởng, Nhật Bản phải tích cực tự do hóa, nới lỏng những hạn chế nhập khẩu của mình trong đó có hệ thống phân phối khép kín và bài ngoại. Cho đến nay, hệ thống này được thay đổi theo hướng tích cực bằng nhiều biện pháp khác nhau như các nhà phân phối có thể tự do bán các sản phẩm của các nhà sản xuất khác bao gồm cả các sản phẩm nhâp khẩu, tiêu biểu cho xu hướng này là các nhà bán buôn và bán lẻ trực thuộc tập đoàn chế tạo oto NISSAN đã được phép ký hợp đồng trực tiếp với hãng FORD và được độc quyền bán ô tô FORD tại Nhật Bản ; các siêu thị lớn thực hiện hệ thống “phát triển và nhập khẩu” tiêu thụ các sản phẩm nước ngoài, chẳng hạn như Tổng công ty siêu thị lớn nhất Nhật Bản – DAICI đã nhập khẩu các máy ghi hình, tivi màu và và các đồ gia dụng khác để bán….


9. Quản lý ngoại tệ


Ở Nhật Bản, Ngân hàng Nhật Bản – Ngân hàng trung ương của Nhật Bản – là nơi tập trung các nguồn thu ngoại tệ giữ vai trò vô cùng quang trọng trong hoạt động ngoại thương thông qua những chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đối, tỷ lệ lãi suất.


Khác với các nước khác, ngân hàng Nhật Bản được phân loại theo những lĩnh vực hoạt động khác nhau như ngân hàng xuất nhập khẩu, ngân hàng tín dụng dài hạn, … để cung cấp vốn một cách có hiệu quả. Những loại ngân hàng này đã trợ giúp cho các công ty Nhật Bản trong thời kỳ sau chiến tranh vì vốn của họ tích lũy được còn rất thấp, phải dựa chủ yếu vào các khoản tiền đi vay. Cùng với sự phát triển lớn mạnh của các công ty Nhật Bản với số vốn ngày càng lớn đã làm thu hẹp sự khác biệt giữa các kênh cung cấp vốn khác nhau.


Biện pháp trên được thực hiện chủ yếu trong các thập niên trước. Bước sang những năm gần đây, khi nền kinh tế Nhật Bản phát triển vươn lên trở thành một trong những cường quốc kinh tế hùng mạnh của thế giới, ngân hàng Nhật Bản thường hay sử dụng biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái dựa trên việc quản lý ngoại tệ của mình.


Một biện pháp gián tiếp khác Nhật Bản sử dụng để hạn chế nhập khẩu hàng hóa trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế là đưa ra lãi suất tiền gửi cao để thu hút tiền gửi tiết kiệm vào ngân hàng, giảm mức tiêu thụ của người dân.


Ngoài ra, Nhật Bản còn sử dụng nhiều biện pháp khác như hạn chế những giao dịch ngoại tệ, chỉ cho phép một tỷ lệ % nhất định về việc chuyển lợi nhuận bằng ngoại tệ ra nước ngoài.

Previous
Next Post »