1. “Đóng cửa kinh tế” chiến lược kiểu cũ
Trong thập niên 50 và đầu những năm 60 hầu hết các nước chậm phát triển ở Châu á, Châu Mỹ la tinh đều xây dựng chế độ đóng cửa kinh tế mà nội dung chủ yếu của nó là thi hành chính sách tự lực cánh sinh để phát triển kinh tế. Thi hành chính sách thay thế nhập khẩu tức là kinh tế chủ yếu theo hướng tự đáp ứng nhu cầu trong nước. Chính sách đóng cửa kinh tế có những đặc điểm như sau:
+ Nền kinh tế phát triển theo hướng tự đáp ứng nhu cầu trong nước.
+Về ngoại thương, các nước chủ chương chỉ xuất khẩu những gì sau khi đã thoả mãn những nhu cầu trong nước.
+Không khuyến khích nước ngoài đầu tư vốn, chủ yếu sử dụng hình thức vay vốn để thoả mãn nhu cầu nhập khẩu.
Nhưng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng nhiều nước chậm và đang phát triển lựa chọn chiến lược đóng của kinh tế:
+Khi được giải phóng khỏi chế độ thuộc địa, nhiều nước chậm và đang phát triển cắt đứt mối quan hệ kinh tế với các nước thực dân đế quốc chưa kịp thiết lập mối quan hệ kinh tế mới với các nước khác trên thế giới. Do đó để duy trì sự phát triển kinh tế của đất nước họ đã lựa chọn con đường tự lực cánh sinh để thoả mãn nhu cầu trong nước.
+ Một số nước sau khi được trao trả độc lập vẫn tiếp tục nhận được những khoản viện trợ của những nước khác, nhưng những hàng viện trợ này chủ yếu là lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, thuốc men và phần lớn là vũ khí đạn khí tài. Cho nên muốn thoát khỏi đói nghèo thì các nước đã chọn con đường tự lực cánh sinh.
+ Một số nước bị ràng buộc bởi tư tưởng của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi từ chỗ bị thống trị bóc lột, sau khi giành được độc lập sợ bị lệ thuộc vào nước ngoài nên thực hiện một chính sách tự cung tự cấp cực đoan.
Tuy vậy đầu những năm 70 chính sách đóng cửa kinh tế bắt đầu bị phá sản ở một loạt nước ngoài trước tiên là ở các nước Châu Mỹ la tinh sau đó lan rộng ra một số nước Châu á nên nhiều nước đã bắt đầu thay đổi chính sách đóng cửa kinh tế của mình bằng chính sách mở cửa kinh tế.
“Mở của kinh tế” xu hướng phát triển của các nước đang phát triển.
Nội dung của chiến lược mở cửa kinh tế là mở rộng quan hệ đối ngoại trọng tâm là ngoại thương mà ưu tiên hàng đầu là xuất khẩu, thu hút vốn và kỹ thuật của các nước có nền kinh tế tiên tiến nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động của đất nước mình. Chính sách mở cửa kinh tế có những ưu thế sau:
+ Nhờ đẩy mạnh xuất khẩu tăng thu nhập ngoại tệ góp phần tăng khả năng nhập khẩu máy móc trang thiết bị, nguyên vật liệu và công nghiệp tiên tiến thực hiện cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ hoá ở các nước chậm và đang phát triển.
+ Cải thiện tình trạng mất cân đối về thu chi tài chính quốc tế nhờ đẩy mạnh xuất khẩu mang lại nguồn thu ngoại tệ, giảm bớt vay nợ nuớc ngoài.
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Theo một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (World Bank) khi nghiên cứu một nhóm nước có nền kinh tế đang phát triển theo 2 khuynh hướng đóng cửa và mở cửa đã đưa ra kết luận: Nhóm hướng ngoại có tốc độ tăng trưởng bình quân nhanh hơn 5% so với các nước đi theo chiến lược nội.
+Thu hút đầu tư nước ngòai tạo điều kiện cho các nước chậm và đang phát triển không nhưng gia tăng tốc độ phát triển mà còn tăng khả năng tiếp thu trình độ khoa hoc và kinh nghiệm phát triển kinh doanh của các nước có nền kinh tế phát triển.
+Nhờ có sự phát triển mạnh mẽ của các ngành xuất khẩu, các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà còn tăng khả năng thu hút lao động giải quyết công ăn việc làm giảm bớt nạn thất nghiệp.
+ Nhờ phát triển xuất khẩu mà số lượng hàng hoá sản xuất không ngừng tăng lên (do thị trường được mở rộng) mà chất lượng hàng hoá tăng (do phải đáp ứng nhu cầu khắt khe của khách hàng nước ngòai đối với chất lượng sản phẩm).
+ Nhờ tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế mà các lợi thế của một đất nước được khai thác có hiệu quả và kinh tế hơn. Công ty tài trợ Công nghiệp Thái lan đã tính rằng, để tiết kiệm một đô la trong sản xuất thay thế hàng nhập khẩu đòi hỏi phải chi phí tài nguyên trong nước gấp 2-3 lần chi phí cho việc thu được một đô la trong sản xuất hướng về xuất khẩu tiêu thụ nhiều lao động.
Tuy nhiên chính sách mở cửa kinh tế hướng vào xuất khẩu và thu hút vốn
đầu tư nước ngoài cũng có những hạn chế nhất định mà kinh nghiệm của các nước đang phát triển đã phải trả giá cho việc tập trung qúa cao phát triển ngoại thương. Nền kinh tế các nước đang phát triển bị lệ thuộc vào bên ngòai, đặc biệt là lệ thuộc vào sử phát triển của nền kinh tế các nước phát triển như Mỹ, Nhật, EU có đến 3/4 kim ngạch buôn bán quốc tế của các nứơc mở cửa trong thời kỳ đầu là được thực hiện với các nước tư bản phát triển trong đó chủ yếu là Mỹ, Nhật. EU. Sự lệ thuộc này dẫn đến hậu quả là bất cứ sự phát triển xấu nào của nền kinh tế của các nước phát triển đều tác động trực tiếp lên các nước thi hành chính sách mở cửa, ngoài ra sự lệ thuộc về kinh tế dẫn đến sự lệ thuộc về chính trị. Kinh nghiệm của các nước đã sớm thực hiện chính sách mở cửa cho thấy để giảm bớt sự lệ thuộc bên ngòai cần sớm thi hành chính sách: Đa phương hoá quan hệ buôn bán và đa dạng hoá thị trường, tăng cường buôn bán vơí các nước đang phát triển với nhau.
Tậo trung cho chiến lược “hướng vào xuất khẩu” nền kinh tế dễ bị phát triển mất cân đối nghiêm trọng, hay người ta thường gọi là nền kinh tế nhị nguyên một bên là các ngành xuất khẩu và phục vụ xuất khẩu phát triển với tốc độ nhanh nhờ được ưu tiên đầu tư và đổi mới trang thiết bị, còn một bên là các ngành chỉ phục vụ nhu cầu nội địa thị bị coi nhẹ ít đầu tư về vốn, kỹ thuật, năng xuất lao động thấp. Ngoài ra giữa các vùng trong một nước cũng có sự phát triển chênh lệch: vùng thành thị, khu công nghiệp phát triển nhanh theo phương hướng hiện đại, dân cư tập trung đông đúc, trong lúc đó ở những vùng hẻo lánh cuộc sống chậm biến đổi dân cư ngày càng thưa thớt đất đai không ai canh tác do nạn di dân ra thành thị. Do đó kinh nghiệm cho thấy Chính phủ các nước đã sớm có chính sách di dân, phát triển vùng kinh tế lạc hậu bằng các biện pháp ưu đãi cùng thực hiện song song chúng với chính sách mở cửa kinh tế.
Chính sách mở cửa kinh tế là ưu tiên phát triển ngoại thương cùng với phát triển mạnh mẽ kinh tế thị trường sẽ làm cho sự bất bình đẳng giữa các tầng lớp cư dân diễn ra nhanh chóng trong lĩnh vực thu nhập. Tình hình này sẽ làm cho mâu thuẫn về kinh tế gia tăng, xã hội rối ren, tính bình đẳng và dân chủ của xã hội bị giảm sút.
EmoticonEmoticon