Các yếu tố chủ yếu của quản trị công ty



1. Về quyền của các cổ đông


Sự tách biệt quyền sở hữu với quyền quản lý kinh doanh đã làm nảy sinh những rủi ro được nhận thức từ lâu về sự khác nhau về lợi ích giữa cổ đông với các nhóm người quản trị nắm bắt quyền lực chi phối và khống chế công ty.


Để củng cố lòng tin của cổ đông và theo đó tăng nguồn vốn đầu tư tư nhân cho lĩnh vực kinh doanh cần được đảm bảo khi nhà đầu tư hiểu rõ thông tin về công ty và hệ thống pháp luật, các cơ chế quản lý nội bộ công ty có khả năng ngăn chặn được khả năng trục lợi của người điều hành hoặc các cổ đông chi phối. Do đó, quy định về quản trị công ty cần phải bảo vệ và tạo điều kiện cho việc thực hiện các quyền của cổ đông.


Những quyền lợi cơ bản của cổ đông bao gồm quyền: (i) chọn phương thức đăng ký quyền sở hữu; (ii) chuyển nhượng cổ phần; (iii) mỗi cổ phần được một phiếu bầu; (iv) Được cung cấp những thông tin quan trọng và cần thiết về công ty một cách thường xuyên và kịp thời; (v) tham dự họp và bỏ phiếu biểu quyết tại ĐHĐCĐ; (vi) bầu chọn và bãi nhiệm các thành viên trong HĐQT; (vii) Được chia lợi nhuận của công ty; (viii) các cổ đông cần được nhận phần thu nhập của mình từ lợi nhuận còn lại của công ty; (ix) các cổ đông thiểu số cần phải được bảo vệ.


Các cổ đông cần có quyền tham gia và được thông tin một cách đầy đủ và thích đáng về các quyết định liên quan đến các thay đổi quan trọng của công ty như: (i) thay đổi, sửa chữa điều lệ và các tài liệu quan trọng khác của công ty; (ii) cho phép phát hành thêm cổ phần; iii) các giao dịch đặc biệt;


Các cổ đông cần được tạo điều kiện tham gia một cách hiệu quả và bỏ phiếu tại cuộc họp ĐHĐCĐ và cần được thông báo về quy chế họp ĐHĐCĐ, bao gồm những thủ tục bỏ phiếu:


– Các cổ đông cần được cung cấp các thông tin cần thiết và kịp thời về thời gian, địa điểm và chương trình của cuộc họp ĐHĐCĐ, cũng như các thông tin đầy đủ và kịp thời về các vấn đề sẽ được thảo luận và quyết định tại cuộc họp.


– Các cổ đông có cơ hội để chất vấn HĐQT và có quyền đưa ra các vấn đề vào chương trình của cuộc họp, tùy thuộc vào những hạn chế nhất định.


– Cổ đông cần được tham gia một cách có hiệu quả vào các quyết định quan trọng về quản trị công ty, như đề cử và bầu chọn thành viên HĐQT.


– Các cổ đông có quyền bỏ phiếu trực tiếp hoặc vắng mặt (qua ủy quyền) và có hiệu lực như nhau.


Quy định về quản trị công ty cần được bảo đảm đối xử công bằng với tất cả các cổ đông, kể cả cổ đông thiểu số và cổ đông người nước ngoài. Tất cả các cổ đông đều được tạo cơ hội được hưởng những đền bù hợp lý nếu quyền của họ bị xâm hại. Cổ đông của cùng loại cổ phần phải có quyền biểu quyết như nhau và tất cả cổ đông sở hữu cùng loại cổ phần phải được đối xử công bằng như nhau. Các cổ đông thiểu số cần được bảo vệ khỏi sự lạm dụng của các cổ đông nắm quyền kiểm soát một cách gián tiếp hay trực tiếp, đồng thời, cần có cơ chế đền bù thiệt hại có hiệu quả. Thành viên HĐQT và các chức danh quản lý quan trọng phải thông báo cho HĐQT về việc họ trực tiếp, gián tiếp hoặc đại diện cho một bên thứ ba, có lợi ích liên quan đến các giao dịch hoặc các vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến công ty. [47]


2. Về Hội đồng quản trị


Để đổi lấy những lợi ích như trách nhiệm hữu hạn, thời gian hoạt động vô thời hạn và khả năng chuyển nhượng cổ phiếu, nhà đầu tư trao quyền quản lý công ty cổ phần cho một nhóm người được ủy thác nhiệm vụ ra những quyết định vì lợi ích cao nhất của công ty và mọi nhà đầu tư vào công ty chứ không vì một bộ phận nhà đầu tư nào đó. Nhóm người được ủy thác này, được các cổ đông bầu chọn, được gọi là HĐQT.


HĐQT hoạt động theo chế độ tập thể, tức là từng thành viên HĐQT không có thẩm quyền của HĐQT. Các thành viên HĐQT cũng thực thi quyền của mình thông qua các cuộc họp, các quyết định thường ghi nhận trong các biên bản họp HĐQT. Mỗi thành viên HĐQT có một phiếu bầu, không kể số cổ phần nắm giữ, không thể ủy quyền để bỏ phiếu như cổ đông.


Phần lớn pháp luật điều chỉnh các CTCP liên quan đến HĐQT, với nhiều quy định cụ thể được xây dựng nhằm củng cố lòng tin của nhà đầu tư rằng các thành viên HĐQT sẽ làm những điều đúng đắn. HĐQT chịu trách nhiệm quản lý hoặc định hướng cho các hoạt động của công ty.


Nhưng các lợi ích của cổ đông, thành viên HĐQT và người quản lý đôi khi có thể xung đột. Chẳng hạn, một số cổ đông có thể muốn nhận cổ tức, trong khi các cổ đông khác và những người điều hành lại muốn tái đầu tư lợi nhuận và thúc đẩy sự tăng trưởng của doanh nghiệp. HĐQT phải giải quyết những lợi ích xung đột này thông qua những quyết định vì lợi ích cao nhất cho công ty và mọi cổ đông của công ty.


Do đó, quy định về quản trị công ty phải đảm bảo HĐQT có vai trò lãnh đạo chiến lược trong công ty và giám sát có hiệu quả đối với công tác quản lý công ty cũng như trách nhiệm của HĐQT trước công ty và các cổ đông.


Đối với các thành viên HĐQT phải có trách nhiệm, bổn phận chính sau:


- Trung thành: Bổn phận chính của các thành viên HĐQT là trung thành với lợi ích của các cổ đông. HĐQT phải thông báo cho các cổ đông những thông tin có thể ảnh hưởng đến lợi ích của họ một cách đầy đủ, không được thu lợi cá nhân qua các giao dịch của công ty, phải thông báo rõ, công khai và không được tham gia bỏ phiếu đối với các vấn đề làm ăn, giao dịch mà cá nhân thành viên đó có lợi ích liên quan.


- Mẫn cán và thận trọng: Đây là bổn phận chung của các thành viên HĐQT. Các thành viên HĐQT cần phải mẫn cán và thận trọng cho lợi ích tối cao của công ty và cổ đông .


“HĐQT là công cụ gây sức ép cân bằng quyền chủ sở hữu của cổ đông với sự tuỳ nghi, hay tự do của các nhà quản lý trong điều hành doanh nghiệp. Do đó, HĐQT cần thực hiện giám sát có tầm chiến lược đối với hoạt động kinh doanh, đồng thời, trực tiếp giám sát, đánh giá và khen thưởng đối với hoạt động quản lý. HĐQT còn phải đảm bảo tính thống nhất của hệ thống kế toán và báo cáo tài chính và theo dõi quá trình công khai hoá và trao đổi thông tin.


Vai trò và nhiệm vụ của các thành viên HĐQT phụ thuộc vào luật quốc gia cũng như vào Điều lệ công ty. Tầm quan trọng của quyền sở hữu khác nhau giữa các nước. Ở Mỹ, nhiệm vụ của HĐQT là hành động vì lợi ích của cổ đông, trong khi ở Hà Lan mục tiêu lại là đạt được sự cân bằng hợp lý trong ảnh hưởng của tất cả các cổ đông; ở Đức, các thành viên HĐQT có nhiệm vụ không chỉ đối với cổ đông của công ty, luật pháp bắt buộc các doanh nghiệp lớn phải có đại diện người lao động trong HĐQT” [21, tr.88].


3. Về quản trị điều hành, thù lao và hiệu quả hoạt động


Khung khổ quản trị công ty phải đảm bảo rằng các quyền của những người có liên quan được pháp luật bảo hộ và các quyền này phải được tôn trọng. Khung khổ quản trị doanh nghiệp phải đưa ra được các biện pháp hữu hiệu xử lý vi phạm các quyền nói trên. Đồng thời, nó cũng cần khích lệ những người có liên quan thực hiện vai trò của họ trong công ty nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty và của thị trường. Để hạn chế hành động tư lợi của người điều hành hoặc cổ đông chi phối, các thông tin về thu nhập và các giao dịch liên quan tới lợi ích cá nhân của họ đều cần được công khai.


Theo khoản 17 Điều 4 LDN năm 2005, thì người có liên quan là tổ chức, cá nhân có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với doanh nghiệp trong các trường hợp sau đây:


a) Công ty mẹ, người quản lý công ty mẹ và người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý đó đối với công ty con;


b) Công ty con đối với công ty mẹ;


c) Người hoặc nhóm người có khả năng chi phối việc ra quyết định, hoạt động của doanh nghiệp đó thông qua các cơ quan quản lý doanh nghiệp;


d) Người quản lý doanh nghiệp;


đ) Vợ, chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của người quản lý doanh nghiệp hoặc của thành viên, cổ đông sở hữu phần vốn góp hay cổ phần chi phối;


e) Cá nhân được uỷ quyền đại diện cho những người quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này;


g) Doanh nghiệp trong đó những người quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và h khoản này có sở hữu đến mức chi phối việc ra quyết định của các cơ quan quản lý ở doanh nghiệp đó;


h) Nhóm người thoả thuận cùng phối hợp để thâu tóm phần vốn góp, cổ phần hoặc lợi ích ở công ty hoặc để chi phối việc ra quyết định của công ty.


Thù lao cho cán bộ quản lý phải gắn với mức lợi nhuận và hiệu quả hoạt động chung của toàn công ty. Toàn bộ mức thù lao, thu nhập cần phải được công khai hóa trong báo cáo tài chính. Các trình tự xác định mức thù lao cũng cần được công khai hóa.


            4. Về công khai hóa thông tin và sự minh bạch


Để giám sát các nhà điều hành, các biện pháp minh bạch hoá tình hình tài chính và kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng. Như vậy các quy chế tiết lộ thông tin, báo cáo tài chính và sự giám sát bởi các cơ quan kiểm toán ngày càng trở thành một yếu tố định hướng quản trị doanh nghiệp, vì lợi ích của cổ đông và lợi ích công cộng.


Công khai thông tin là đòi hỏi đầu tiên để nhà đầu tư có thể đánh giá hoạt động của doanh nghiệp. Tiếp theo đó là các quyền liên quan tới khả năng kiểm soát của nhà đầu tư đối với các hoạt động của doanh nghiệp. Các hành vi trục lợi từ người điều hành và cổ đông chi phối phải có cơ chế để kiểm soát bằng pháp luật và tự nguyện một cách hiệu quả để nhà đầu tư có thể yên tâm về tài sản của mình.


Quy định về quản trị công ty phải đảm bảo việc công khai hóa một cách kịp thời và chính xác những thông tin về tất cả các vấn đề quan trọng của công ty.


Các thông tin cần được chuẩn bị, được kiểm toán và công bố thống nhất theo các tiêu chuẩn về kế toán, tài chính. Các cuộc kiểm toán hàng năm cần được thực hiện bởi các kiểm toán độc lập nhằm đảm bảo tính khách quan của quá trình xây dựng và nội dung báo cáo tài chính của công ty.


 

Previous
Next Post »