Hàng hoá được hưởng ưu đãi
Phạm vi sản phẩm được hưởng ưu đãi tuỳ thuộc vào chính sách của mỗi nước dành ưu đãi. Không phải tất cả các sản phẩm đều được hưởng ưu đãi GSP. Tuỳ theo cơ cấu kinh tế, xuất nhập khẩu, mỗi nước xác định một danh mục hàng nhập khẩu được giảm, miễn thuế. Thông thường các nước đó công bố danh mục hàng hoá có gắn mã số HS theo hệ số được hưởng và không được hưởng GSP (gọi là danh mục thuận và danh mục từ chối) và danh mục hàng hoá có giới hạn trần (ceiling) được áp dụng chung đối với các nước hưởng GSP của nước liên quan. Các danh mục hàng hóa này được xem xét lại theo định kỳ thường là hàng năm và được công bố công khai qua báo chí và các Tổ chức xúc tiến thương mại của các nước, đồng thời gửi cho các Tổ chức đầu mối về GSP ở các nước dành ưu đãi cũng như các nước hưởng ưu đãi.
Hàng hoá thuộc danh mục được hưởng GSP thường là những sản phẩm ít có khả năng cạnh tranh với hàng của nước cho hưởng GSP. Các sản phẩm này khi nhập khẩu vào vào thị trường các nước cho hưởng ưu đãi sẽ không làm ảnh hưởng đến sản xuất trong nước hoặc là hàng nông sản chưa chế biến, nguyên liệu cho công nghiệp, hàng chế biến ở mức độ thấp và hàng thủ công.
Các mặt hàng không được hưởng GSP thường là các mặt hàng tạo nguồn thu thuế lớn cho ngân sách hoặc là những sản phẩm bảo hộ cao để sản xuất trong nước không bị tổn hại do nhập khẩu gây ra.
Ví dụ: – Thị lợn, thịt bò là sản phẩm EU sản xuất nhiều cần bảo hộ cho nên hai mặt hàng này không thuộc diện hưởng GSP và chịu thuế nhập khẩu rất cao (gần 100%).
Hầu hết các biểu thuế nhập khẩu của các nước đều có ghi rõ mức thuế ưu đãi dành cho các mặt hàng thuộc diện được hưởng GSP theo từng loại hàng hoá với 6 – 8 chữ số hệ số để các doanh nghiệp dễ dàng xác định hàng hoá của mình có được hưởng GSP hay không và mức thuế ưu đãi là bao nhiêu. Việc làm này còn giúp định hướng được các dự án đầu tư lâu dài và xác định thị trường tiêu thụ sản phẩm của các nhà kinh doanh cũng như nhà sản xuất.
Mức độ ưu đãi
Thường thì mức độ ưu đãi của đa số các mặt hàng được tính bằng khoảng cách giữa thuế suất MFN và thuế suất GSP được công bố trong các biểu thuế nhập khẩu của từng mặt hàng của nước dành ưu đãi.
Mức độ ưu đãi phổ biến đối với đa số sản phẩm được hưởng GSP là được giảm 50% mức thuế MFN.
Ví dụ: Chế độ ưu đãi GSP Scheme của Nhật có 67 mặt hàng được giảm 50% thuế suất so với thuế suất MFN.
Đối với GSP Scheme của Mỹ thì tất cả hàng hóa hưởng GSP đều được miễn thuế.
GSP Scheme mới của EU (từ năm 1995) phân chia hàng thuộc diện được hưởng ưu đãi thành 04 nhóm với mức ưu đãi đối với từng nhóm:
< Nhóm rất nhậy cảm : Giảm 15 % thuế MFN
< Nhóm nhậy cảm : Giảm 30 % thuế MFN
< Nhóm bán nhậy cảm : Giảm 65% thuế MFN
< Nhóm không nhậy cảm : Miễn thuế
Nhóm thứ nhất gồm chủ yếu là hàng dệt may, chuối tươi, khô, dứa tươi và đóng hộp (không quá 17% đường). Nhóm 2 gồm gạch lát nền, bát đĩa và bộ đồ uống bằng sứ, giày dép, vật trang trí bằng sành sứ. Nhóm 3 gồm tôm cua và mực đông lạnh, cá tươi và đông lạnh. Nhóm 4 gồm một số hàng thủy sản, nguyên liệu, khoáng sản, công nghệ phẩm mà EU không cần bảo hộ.
So với Scheme cũ, mức giảm thuế tối thiểu đã bị hạ từ 20% xuống còn 15% (đối với nhóm hàng rất nhậy cảm). Tuy mức cắt giảm tối đa đã tăng từ 50%
– 65% mức thuế MFN nhưng lại rơi vào hàng bán nhậy cảm và khả năng buôn bán sản phẩm này khó thực hiện hơn. Khác với các chế độ khác, các nhà xuất khẩu dự báo một khả năng sút giảm thực hiện GSP, đặc biệt sau chương trình đàm phán Urugoay sẽ dần dần triệt tiêu ưu thế cạnh tranh của hàng hóa được hưởng GSP so với hàng hóa không được hưởng GSP.
Trước đây nhiều nước qui định giới hạn (tính theo số lượng hoặc tổng trị giá) được hưởng GSP đối với từng nhóm hàng cụ thể. Theo qui định này một mặt hàng nhập khẩu vượt quá giới hạn quy định thì phần vượt phải chịu thuế MFN. Mấy năm gần đây, nhiều nước đã bỏ qui định giới hạn.
EmoticonEmoticon