1. Thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế bao gồm hai lĩnh vực:
– Thứ nhất, hoạt động thương mại cụ thể, tức là việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ thông qua các hợp đồng thương mại quốc tế. Thương mại quốc tế trong phương diên này được hình thành từ thời cổ đại. Tuy nhiên cho đến cuối thế kỷ 19 thương mại quốc tế chỉ giới hạn trong việc trao đổi hàng hoá. Từ nửa sau thế kỷ 19 thương mại quốc tế không những chỉ có việc trao đổi hàng hoá mà còn được thực hiện trong các lĩnh vực khác như dịch vụ, đầu tư, thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Đây có thể coi là những vấn đề thuộc lĩnh vực tư của thương mại quốc tế.
– Thứ hai, các vấn đề liên quan đến chính sách thương mại của các quốc gia trên thế giới như thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ, thương mại đầu tư, các vấn đề về bán phá giá, tài trợ xuất khẩu…Đây có thể coi là những vấn đề thuộc lĩnh vực “công”.
Ý nghĩa và vai trò của thương mại quốc tế không phải mới được nhận thấy trong những thập kỷ gần đây mà đã được nhận thấy từ thế kỷ thứ 18 với hai học thuyết nổi tiếng: Thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo.
Trước các nhà kinh tế học này đã tồn tại học thuyết gọi là thuyết “trọng thương”, theo đó hàng năm phải bán cho nước ngoài một giá trị hàng hoá lớn hơn giá trị mà chúng ta mua của họ. Quan điểm này bị các tác giả của hai thuyết trên coi là sai lầm bởi vì:
Tài sản là tiền tích lũy có thể gây lạm phát và làm giảm sự cạnh tranh quốc tế của một đất nước. Điều này đã được kiễm chứng bằng thực tiễn thương mại hiện đại. Một quốc gia xuất siêu như vậy sẽ tích lũy được nhiều ngoại tệ, mỗi khi ngoại tệ quá nhiều hơn mức cần thiết sẽ dẫn đến tỷ giá giữa ngoại tệ và nội tệ bị hạ thấp và như vậy giá thành sản phẩm sẽ tăng lên dẫn đến hàng hoá khó cạnh tranh với hàng hoá của nước ngoài. Như vậy để nền kinh tế quốc dân phát triển bình thường cán cân thương mại quốc tế lúc nào cũng phải ở thế cân bằng.
Khi chỉ trích quan điểm trên ông Adams Smith đưa ra học thuyết gọi là thuyết lợi thế tuyệt đối. Theo thuyết này thì mỗi quốc gia chỉ nên đầu tư cho sản xuất những mặt hàng mà mình có lợi thế. Ôâng ta co rằng nếu một nước nào đó có thể cung cấp cho chúng ta một loại hàng hoá rẻ hơn chúng ta tự làm thì tốt nhất là nên mua hàng hoá đó bằng cách bán một phần sản lượng kỹ nghệ của chúng ta.
Trên cơ sở thuyết lợi thế tuyệt đối David Ricardo đưa ra thuyết lợi thế so sánh. Thuyết lợi thế so sánh này cho thấy rằng, không chỉ lợi thế tuyệt đối mà lợi thế so sánh cũng chỉ ra được ưu điểm của thương mại quốc tế.
Như vậy thương mại quốc tế không những góp phần tạo ra nhiều hàng hoá hơn nhờ mỗi quốc gia phát huy được thế mạnh của mình mà còn thu nhập cho các chủ thể khác. Người vận chuyển, thương gia.… Không ai có thể phủ nhận vai trò của thương mại quốc tế.
2. Luật Thương mại quốc tế
Ở Việt Nam chúng ta khi bàn đến nội dung của môn học Luật thương mại Quốc tế có nhiều quan điểm không giống nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng, nội dung của môn học Luật thương mại quốc tế chỉ bao gồm những vấn đề thuộc lĩnh vực “công” (International Trade Law). Bởi vì các loại hợp đồng thương mại thương mại quốc tế phải thuộc phạm vi của Luật kinh doanh quốc tế (International Commercial law) hay (International Business Law). Quan điểm thứ hai cho rằng, nội dung của môn học Luật thương mại quốc tế phải bao gồm những vấn đề thuộc lĩnh vực “tư” tức là các loại hợp đồng thương mại quốc tế. Sở dĩ có hai quan điểm nói trên bởi có cách hiểu không thống nhất về thuật ngữ: thuật ngữ: “Thương mại” trong tiếng Việt được hiểu là “Trade” hay “Commer”.
Theo quan điểm của chúng tôi, việc thuật ngữ “Thương mại” được hiểu là “Trade” hay “Commer” là vấn đề không quan trọng khi xác định phạm vi, nội dung của môn học Luật thương mại quốc tế mà quan trọng nhất là vấn đề: nội dung chương trình của môn học phải xuất phát từ :
Thứ nhất, phải trang bị cho sinh sinh viên những kiến thức gì;
Thứ hai, những kiến thức mà môn học Luật thương mại quốc tế mang đến có thực sự cần thiết trong thực tiễn hiện nay hay không.
Chúng tôi cho rằng cả hai lĩnh vực của Luật thương mại quốc tế nói trên đều quan trọng. Việc nghiên cứu luật thương mại quốc tế dưới góc độ các chính sách thương mại giúp cho người học biết được những lợi ích của việc nhà nước ta tham gia vào các Hiệp định thương mại song phương (Hiệp định thương mại Việt Nam và Hoa Kỳ, Hiệp định thương mại Việt Nam và Nhật bản), các Hiệp định thương mại khu vực (Hiệp định AFTA), và hiệp định thương mại đa phương giúp cho người học hiểu các nguyên tắc cơ bản của hoạt động thương mại quốc tế, hiểu thế nào là bán phá giá và pháp luật bán phá giá, thế nào là các biện pháp tự vệ, thế nào là tài trợ xuất khẩu… để có cách giải quyết thích hợp trong trường hợp có tranh chấp.
Việc nghiên cứu các loại hợp đồng thương mại quốc tế giúp chúng ta nắm được các quy định của Luật thương mại quốc tế và tập quán thương mại quốc tế. Điều này hết sức cần thiết cho các doanh nghiệp khi tham gia ký kết và thực hiện hợp đồng thương mại quốc tế. Chúng tôi cho rằng, các doanh nghiệp, các cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thương mại quốc tế, các cơ quan nhà nước khác là những nơi chủ yếu mà các sinh viên sẽ làm việc sau khi ra trường, vì vậy các vấn đề liên quan đến hợp đồng là nội dung không thể thiếu, so sánh sự khác biệt giữa chúng với quy định của pháp luật Việt Nam về các loại hợp đồng đó.
Như vậy chúng ta có thể nói rằng, Luật thương mại quốc tế là những quy tắc điều chỉnh hai lĩnh vực: thứ nhất: các quan hệ thương mại trong lĩnh vực “công” tức là các chính sách thương mại của các quốc gia; thứ hai: các quan hệ giữa các thương nhân được phát sinh trong quá trình ký kết và thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế “các quan hệ thuộc lĩnh vực tư”.
Các lập luận ủng hộ tự do hoá thương mại và bảo hộ mậu dịch
Tự do hóa thương mại bao gồm tự do hóa thương mại hàng hóa, dịch vụ, vốn và công nghệ. Tự do hóa thương mại trong lĩnh vực vốn (đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI) đang ngày càng được nói đến nhiều và được quan tâm đặc biệt. Mở rộng đầu tư nước ngoài có ảnh hưởngtrực tiếp đến tăng trưởng kinh tế và thương mại hàng hóa.
Các nhà kinh tế học cổ điển như David Hume (1711-1776), Adam Smith (1723-1790), David Ricardo (1772-1813), John Stuart Mill (đã nghiên cứu và đề xuất khá nhiều nguyên tắc cơ bản về tăng trưởng kinh tế, thương mại quốc tế và quan hệ giữa tăng trưởng và thương mại. Quá trình tích tụ vốn và thay đổi công nghệ (kết quả của tăng trưởng kinh tế) sẽ dẫn đến việc mở rộng thương mại quốc tế và ngược lại, thương mại quốc tế giúp hoàn thiện các điều kiện tăng trưởng kinh tế.
– Sự tác động của thương mại quốc tế đối với sự tăng trưởng kinh tế thông qua việc nhập nguyên liệu, máy móc thiết bị đầu vào cho sản xuất trong nước, phổ biến công nghệ mới và cơ hội tiêu dùng mới, và cuối cùng là mở rộng việc phân chia lao động.
– Tự do hóa thương mại ảnh hưởng đến kinh tế thông qua việc tăng hiệu quả sử dụng công nghệ.
– Thương mại quốc tế có thể làm tăng nhanh quá trình chuyển giao công nghệ quốc tế bằng nhiều cách. (i) hợp đồng thương mại đựoc ký kết giữa các nước có thể là nguồn thông tin về sản phẩm và quy trình sản xuất mới; (ii) bản thân thương mại quốc tế về thông tin công nghệ có thể được thực hiện thông qua hợp đồng li-xăng và liên doanh; (iii) một trong những cấu thành quan trọng của công nghệ gắn chặt với thiết bị được mua bán trên thị trường quốc tế; (iv) thương mại vốn quốc tế thông qua FDI cũng kéo theo nó một phần của chuyển giao công nghệ.
– Xuất khẩu là một hoạt động trong thương mại quốc tế, ở nhiều quốc gia đang phát triển có được sự tăng trưởng kinh tế nhờ xuất khẩu.
– Tự do hóa thương mại thúc đẩy đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Các công ty đa quốc gia chiếm ½ tổng thương mại và 1/5 GDP thế giới (A.R Rugman-1988).
Về nguyên tắc, thương mại tư do mang đến những lợi ích sau đây: i) cạnh tranh thúc đẩy sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và giảm giá; ii) Phân chia lao động dẫn đến chuyên môn hoá, về phần mình chuyên môn hoá giúp nâng cao năng suất lao động và giảm giá; iii) sản xuất quy mô càng lớn thì phân chia lao động và chuyên môn hoá càng cao và kết quả là lợi nhuân tăng.
Cùng với nhũng lập luận ủng hộ thương mại tự do là các lập luận bảo hộ mậu dịch.
- Bảo hộ các ngành sản xuất mới. Điều này được lý giải bởi việc nước công nghiệp hoá có nhiều lợi thế hơn so với nước chưa được công nghiệp hoá. Về nguyên tắc, cả người theo trường phái tự do và dân tộc chủ nghĩa đều nhất trí về sự cần thiết phải bảo hộ những ngành sản xuất mới.
Những người theo trường phái tự do cho rằng, bảo hộ mậu dịch hất về thực clà một cuộc thử nghiệm xem có đúng là một nước cụ thể nào đó thực sự có lợi thế so sánh trong một ngành sản xuất nào đó hay không. Vấn đề ở chỗ là phải làm sao để phạm vi bảo hộ chỉ giới hạn trong các trường hợp có đủ cơ sở để đảm bảo rằng, ngành sản xuất được bảo hộ sau một thời gian tự mình có thể đứng vững. Đừng bao giờ để các nhà sản xuất trong nước hy vọng rằng, bảo hộ là vĩnh viễn. Như vậy những người theo trường phái tự do coi bảo hộ chỉ là một biện pháp tạm thời, một bước đệm trong quá trình tự do hoá thương mại.
Những người theo trường phái dân tộc coi bảo hộ là mục tiêu cuối cùng cần đạt. Thông thường, mục tiêu đầu tiên của những người theo chủ nghĩa dân tộc không phải là thương mại tự do mà cũng chẳng phải là tích tụ của cải mà là xây dựng quốc gia và thiết lập quyền lực kinh tế. Tại hầu hết các nước đang phát triển, công nghiệp hoá là mục tiêu hàng đầu của chính sách dân tộc.
- Tiếp sức sống mới co các ngành sản xuất trong nước
– Thương mại công bằng
– Chính sách thương mại chiếu lược và chính sách thương mại có quản lý.
EmoticonEmoticon