Nguyên tắc điều chỉnh buôn bán quốc tế



1. Nguyên tắc tương hỗ:


Trên nguyên tắc này các bên giành cho nhau những ưu đãi và nhân nhượng tương xứng nhau trong quan hệ buôn bán với nhau. Mức độ ưu đãi và điều kiện nhân nhượng phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế của các bên tham gia. Bên yếu hơn thường bị lép vế và thường bị buộc chấp nhận những điều kiện do bên có thế lực kinh tế mạnh hơn đưa ra. Ngày nay các nước ít áp dụng nguyên tắc này trong quan hệ buôn bán với nhau.


2. Nguyên tắc “Đãi ngộ tối huệ quốc – MFN” Most Favoured Nation Treatment


Đây là nguyên tắc không phân biệt đối xử “Non Discrimination”. Nghĩa là các bên tham gia trong quan hệ kinh tế buôn bán sẽ dành cho nhau những điều kiện ưu đãi không kém hơn những ưu đãi mà mình đã hoặc sẽ giành cho các nước khác.


Nguyên tắc này được hiểu theo hai cách:


+ Cách 1: Tất cả những ưu đãi và miễn giảm mà một bên tham gia trong các quan hệ kinh tế thương mại quốc tế đã hoặc sẽ giành cho bất kỳ một nước thứ ba nào thì cũng giành cho bên tham gia kia được hưởng một cách vô điều kiện.


+ Cách2: Hàng hoá di chuyển từ một bên tham gia trong quan hệ kinh tế thương mại này đưa vào lãnh thổ của bên tham gia kia sẽ không phải chịu mức thuế và các phí tổn cao hơn những thuế quan và những thủ tục phiền toái hơn những thuế quan và thủ tục đang hoặc sẽ được áp dụng đối với hàng nhập vào từ nước thứ ba nào khác. Theo luật quốc tế thì đây là một nguyên tắc điều chỉnh các mối quan hệ thương mại và kinh tế giưã các nước trên cơ sở các hiệp định, hiệp ước ký kết giữa các nước một cách bình đẳng và có đi có lại đôi bên cùng có lợi. Do đó xét theo góc độ luật quốc tế thì điều chủ yếu của quy chế tối huệ quốc (MFN) là không phải cho nhau hưởng các đặc quyền mà là đảm bảo sự bình đẳng giữa các quốc gia có chủ quyền về các cơ hội giao dịch thương mại và kinh tế.


Mục đích chính của việc sử dụng nguyên tắc MFN trong buôn bán quốc tế là nhằm chống phân biệt đối xử trong buôn bán quốc tế, làm cho điều kiện cạnh tranh giữa các bạn hàng ngang bằng nhau nhằm mục đích thúc đẩy quan hệ buôn bán giữa các nước phát triển. Mức độ và phạm vi áp dụng của nguyên tắc MFN phụ thuộc vào mức độ quan hệ thân thiện giữa các nước áp dụng với nhau.


Lịch sử hình thành và phát triển chế độ MFN đã có trên 200 năm. Năm 1948 qui chế này chính thức đựơc GATT (Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch) đưa vào điều một của GATT và coi đây là cơ sở quan trọng kêu gọi các nước hội viên cho nhau hưởng chế MFN nhằm thúc đẩy quan hệ buôn bán giữa các nước hội viên. Hội nghị Thương mại và phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD) từ năm 1968 cũng đã thành lập hệ thống ưu đãi chung (GSP) dành cho các nước đang phát triển, tuy nhiên hệ thống chung này không mang tính cam kết và phạm vi áp dụng chỉ hạn chế ở một số mặt hàng xuất khẩu thành phẩm và ban thành phẩm có xuất xứ từ các nước đang phát triển. Nguyên tắc MFN được các nước áp dụng dưới các hình thức khác nhau, nhưng nhìn chung có hai cách áp dụng như sau:


+ Áp dụng chế độ tối huệ quốc có điều kiện: Quốc gia được hưởng tối huệ quốc phải chấp nhận thực hiện những điều kiện mà quốc gia và chính phủ quốc gia cho hưởng đòi.


+ Áp dụng chế độ tối huệ quốc vô điều kiện.


Nguyên tắc MFN là nguyên tắc “không phân biệt đối xử “ nhưng thực tế nó chính là nguyên tắc phân biệt đối sử giữa các nước trong quan hệ buôn bán. Sự phận biệt đối sử này được thể hiện trên những mặt sau:


+Trình độ phát triển kinh tế của các nước có sự chênh lệch lớn, áp dụng chế độ ưu đãi chung trong quan hệ buôn bán với nước giàu và nghèo, sẽ dẫn tới lợi ích kinh tế thu được của các nước này rất chênh lệch nhau, các nước nghèo hơn sẽ bất lợi trong thương mại khi được sử dụng chế độ MFN như các nước giàu khác.


+ Nguyên tắc MFN là công cụ để phân biệt đối xử giữa các nước được hưởng MFN và các nước không được hưởng.


+ Nguyên tắc này được áp dụng nhằm gây áp lực kinh tế và chính trị đối với các nước muốn được hưởng MFN.


Hiện nay nguyên tác MNF được rất nhiều nước áp dụng ví dụ Mỹ là một điển hình. Chế độ tối huệ quốc (MNF) được Mỹ áp dụng đầu tiên năm 1778 trong buôn bán với Pháp, sau đó là Anh, Nhật, Đức. Trong suốt hơn một thế kỷ Mỹ áp dụng MFN có điều kiện. Từ năm 1923 Mỹ áp dụng thêm chế độ MFN không điều kiện, nhằm khuyến khích đẩy mạnh thương mại, hỗ trợ cho sự bùng nổ về kinh tế của Mỹ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất.


Những nước áp dụng MFN bình quân thuế nhập khẩu đánh vào hàng hoá là 9%, trong khi đó thuế nhập khẩu bình thường không được hưởng MFN bị đánh cao gấp 7 lần. Tính đến năm 1992 Mỹ đã cho 160 nước được hưởng qui chế MFN trong quan hệ buôn bán với Mỹ, và thường Mỹ áp dụng chế độ MFN có điều kiện để gây sức ép về kinh tế chính trị đối với các bạn hàng như từ tháng 2/1980 Mỹ cho Trung quốc hưởng chế độ tối huệ quốc (MFN) nhưng phải gia hạn hàng năm để kiềm chế Trung quốc phải nhượng bộ trong vần đề nhân quyền ở Tây tạng, vấn đề bán và phổ biến các vũ khí thông thường và vũ khí hạt nhân cho các nứơc ở thế giới thứ 3, vấn đề Đài loan v.v… Năm 1994 Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt nam, nhưng việc buôn bán trực tiếp với Mỹ chưa thể thực hiện được ngay cho đến khi Mỹ cho Việt nam hưởng qui chế MFN. Vì nếu không được hưởng qui chế tối huệ quốc (MFN) thì mức thuế nhập khẩu đánh vào hàng hóa nhập vào Mỹ rất cao trong khi đó hàng hoá Việt nam với chất lượng chưa cao rất khó cạnh tranh với các bạn hàng khác trên thị trường Mỹ.


3. Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Parity – NP)


Các công dân của các bên tham gia trong quan hệ kinh tế thương mại được hưởng mọi quyền lợi và nghĩa vụ như nhau (trừ quyền bầu cử, ứng cử và tham gia nghĩa vụ quân sự). Điều này có nghĩa là mọi công dân, công ty nước A khi sống và đặt trụ sở tại nước B thì được hưởng các quyền lợi và nghĩa vụ như công dân và công ty của nước B và ngược lại trong trường hợp nước A và B ký kết hiệp định thương mại – kinh tế dựa trên nguyên tắc ngang bằng dân tộc (NP).

Previous
Next Post »