1. Đặc điểm
Thị trường cạnh tranh có tính chất độc quyền là một cấu trúc thị trường vừa có tính chất của một thị trường cạnh tranh, vừa có tính chất của một thị trường độc quyền. Nó có những đặc điểm sau: thứ nhất, trên thị trường có nhiều doanh nghiệp cùng hoạt động. Vì thế, giống như thị trường cạnh tranh hoàn hảo, quy mô của mỗi doanh nghiệp đều tương đối nhỏ so với quy mô chung của thị trường. Trong ngành lợi thế kinh tế nhờ quy mô là tương đối nhỏ, không đòi hỏi sự tập trung sản xuất vào một số ít doanh nghiệp. Thứ hai, mỗi doanh nghiệp đều sản xuất ra một loại sản phẩm khác biệt với sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác. Xét theo nghĩa nào đó, một doanh nghiệp là nhà sản xuất độc quyền về loại sản phẩm của mình. Tuy nhiên, các sản phẩm của các doanh nghiệp khác tương đối dễ dàng thay thế sản phẩm này. Thứ ba, các doanh nghiệp có khả năng tự do gia nhập cũng như rút lui khỏi ngành. Những rào cản pháp lý cũng như kinh tếđối với sự gia nhập ngành là không tồn tại. Vì đặc điểm này, khi lợi nhuận của các doanh nghiệp hiện hành trong ngành là dương, các doanh nghiệp mới sẽ bị thu hút nhập ngành. Ngược lại, khi các doanh nghiệp hiện hành đang trong tình trạng bị thua lỗ, một số doanh nghiệp sẽ rút lui khỏi ngành.
Trên thực tế, các thị trường như dịch vụ bán lẻ, dịch vụăn uống, sách, nhà nghỉ… có thể xếp vào dạng thị trường này.
Đặc điểm nổi bật của thị trường cạnh tranh có tính chất độc quyền chính là tính khác biệt của sản phẩm. Dù đây không phải là đặc điểm duy nhất chỉ có ở dạng thị trường này, song chính nó là điều phân biệt thị trường này với thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Do cung cấp một sản phẩm có tính khác biệt so với sản phẩm của các đối thủ, doanh nghiệp ít nhiều vẫn có quyền lực thị trường, có khả năng chi phối giá. Trong một giới hạn nhất định, nó có khả năng tăng giá sản phẩm của mình mà vẫn không sợ bị mất đi những khách hàng quen. Đường cầu mà mỗi doanh nghiệp đối diện là một đường cầu dốc xuống.
2. Lựa chọn sản lượng và định giá của một doanh nghiệp cạnh tranh có tính chất độc quyền trong ngắn hạn
Đối diện với một đường cầu dốc xuống, trên thị trường cạnh tranh có tính chất độc quyền, doanh nghiệp lựa chọn sản lượng và định giá theo một nguyên tắc tương tự nhưđối với nhà độc quyền. Mức sản lượng tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp vẫn là mức sản lượng mà tại đó doanh thu biên bằng chi phí biên và tương ứng với mức sản lượng này, doanh nghiệp sẽđịnh giá phù hợp với đường cầu mà nó đối diện. (Lưu ý rằng đường cầu này khác với đường cầu của thị trường hay đường cầu mà cả ngành đối diện). Tùy theo tương quan giữa chi phí và nhu cầu, trong ngắn hạn, doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận kinh tế dương, lợi nhuận kinh tế bằng không hay bị thua lỗ.
Trên hình 6.12 , phần a, ta thấy, ở mức sản lượng tối ưu q*, chi phí bình quân của doanh nghiệp thấp hơn mức giá. Tại sản lượng này, doanh nghiệp thực sự thu được lợi nhuận kinh tế dương. Khi lợi nhuận kinh tế không âm, doanh nghiệp có thể yên tâm hoạt động lâu dài trong ngành. Ở phần b, ta thấy, mặc dù sản xuất ở mức sản lượng tối ưu, doanh nghiệp vẫn bị thua lỗ. Doanh nghiệp chỉ chấp nhận sản xuất ở mức sản lượng này khi mức giá còn cao hơn hoặc bằng chi phí biến đổi bình quân. Đương nhiên, về dài hạn, tình trạng thua lỗ sẽ tạo ra áp lực để doanh nghiệp rút lui khỏi ngành.
3. Cân bằng dài hạn
Tình trạng các doanh nghiệp hiện hành trong ngành thu được lợi nhuận kinh tế dương hay bị thua lỗ không thể tồn tại lâu dài. Khi các doanh nghiệp đang có lợi nhuận dương, về dài hạn, điều đó sẽ hấp dẫn các doanh nghiệp mới nhập ngành. Số lượng các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành tăng lên khiến cho thị phần của mỗi doanh nghiệp thu hẹp lại. Điều này tương đương với việc đường cầu mà mỗi doanh nghiệp đối diện dịch chuyển sang trái. Doanh nghiệp sẽ phải thu hẹp sản lượng và thu được lợi nhuận ít hơn. Quá trình nhập ngành chỉ dừng lại khi mà các doanh nghiệp trong ngành chỉ còn thu được lợi nhuận kinh tế bằng 0. Kết cục như vậy xảy ra khi đường cầu đối diện với doanh nghiệp dịch chuyển tới mức trở thành đường tiếp xúc với đường chi phí bình quân. Khi đó, tại mức sản lượng tối đa hóa lợi nhuận (nơi mà chi phí biên bằng doanh thu biên), mức giá tối ưu mà doanh nghiệp định chính bằng chi phí bình quân.
Ngược lại, khi các doanh nghiệp trong ngành đang rơi vào trạng thái thua lỗ (chỉ thu được lợi nhuận kinh tế âm), một số doanh nghiệp sẽ rút lui khỏi ngành. Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong ngành giảm xuống tạo cơ hội cho các doanh nghiệp còn lại có được một thị phần lớn hơn. Đường cầu đối diện với mỗi doanh nghiệp lại dịch chuyển sang phải. Doanh nghiệp sẽ mở rộng quy mô sản xuất, dần dần ít thua lỗ hơn. Quá trình rời khỏi ngành cũng sẽ dừng lại khi các doanh nghiệp còn lại trong ngành trở về trạng thái hòa vốn, tức có lợi nhuận kinh tế bằng 0.
Như vậy, cơ chế xuất, nhập ngành một cách tự do khiến cho thị trường cạnh tranh có tính chất độc quyền dần dần đạt đến trạng thái cân bằng dài hạn. Giống như thị trường cạnh tranh hoàn hảo, tại trạng thái này, giá cả bằng chi phí bình quân và các doanh nghiệp trong ngành chỉ thu được lợi nhuận kinh tế bằng 0. Với mức lợi nhuận đó, các doanh nghiệp mới không có động cơ tham gia vào ngành, còn các doanh nghiệp hiện hành cũng không có động cơ rút lui khỏi ngành. Tuy nhiên, tại điểm cân bằng dài hạn, nếu trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo, giá luôn luôn bằng chi phí biên và bằng mức chi phí bình quân tối thiểu (hình 6.13 b), thì trên thị trường cạnh tranh có tính độc quyền, giá lại cao hơn cả chi phí biên lẫn mức chi phí bình quân tối thiểu (hình 6.13 a). Điều đó cho thấy doanh nghiệp cạnh tranh có tính chất độc quyền không sản xuất ở tại quy mô hiệu quả mà điều kiện kỹ thuật cho phép. Tại điểm cân bằng dài hạn, sản lượng của doanh nghiệp còn thấp hơn sản lượng có hiệu quả vì nếu tăng sản lượng lên, doanh nghiệp vẫn có thể hạ thấp được chi phí bình quân. Tuy nhiên, để tối đa hóa lợi nhuận, nó sẽ không tăng sản lượng chỉđể nhằm giảm chi phí bình quân, nếu nhưđiều đó làm cho chi phí biên của nó vượt quá doanh thu biên. Mặt khác, việc doanh nghiệp định giá cao hơn chi phí biên chỉ vì trong trường hợp này, nó đối diện với một đường cầu dốc xuống, do đó, nó ít nhiều có quyền lực thị trường.
EmoticonEmoticon