Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP)




Năm 1963 tại hội nghị của tổ chức GATT lần đầu tiên các nước thuộc EEC đề nghị những chế độ ưu đãi với các thành phẩm và bán thành phẩm của các nước thuộc thế giới thứ ba, khi xuất khẩu sang các nước công nghiệp phát triển. Nhưng mãi đến năm 1968 chế độ ưu đãi về thuế quan chung mới được thông qua tại phiên họp thứ 2 của UNCTAD (Hội nghị của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển). Ngày 01/07/1971 lần đầu tiên EEC áp dụng chính thức chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập GSP, còn Nhật bản áp dụng từ tháng 8/1971 và Mỹ bắt đầu áp dụng chế độ GSP vào năm 1976.


Nôi dụng chính của chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập là:


+Giảm thuế hoặc miễn thuế quan đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang hoặc kém phát triển.


+ GSP áp dụng cho các loại hàng công nghiệp thành phẩm hoặc bán thành phẩm và hàng loạt các mặt hàng công nghiệp chế biến.


+ Mục đích của việc áp dụng GSP là tạo điều kiện để các nước đang phát triển thấy được khả năng tiềm tàng về mở rộng buôn bán phát sinh từ chế độ GSP  và tăng cường khả năng sử dụng chế độ này.


+ Tăng kim ngạch xuất khẩu của các nước được hưởng.


+ Thúc đẩy công nghiệp hoá các nước này.


+ Đẩy mạnh mức tăng trưởng kinh tế của những nước này.


+ Phổ biến thông tin về các quy định và thủ tục điều chỉnh buôn bán theo chế độ này.


+ Giúp đỡ các nước được hưởng thiết lập những điểm trọng tâm trong nước để tăng cường sử dụng GSP.


+ Cung cấp thông tin về các quy định liên quan đến thương mại như thuế chống phá giá và chống bù giá, các quy định hải quan, thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu, và pháp luật thương mại khác quy định các điều kiện thâm nhập thị trường các nước cho hưởng.


Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập được các cơ quan lập pháp của các nước giành ưu đãi ban hành thành các văn bản pháp luật có hiệu lực trong từng thời kỳ nhất định có thể là 1 năm hay 10 năm hoặc vài ba chục năm sau thời hạn đó họ lại tiếp tục công bố những qui định cho những năm tiếp theo.


Ví dụ chế độ ưu đãi thuế quan của EU: đến hết năm 2002 EU đã giành cho 144 nước và 36 vùng lãnh thổ phụ thuộc như Macao, Nga, Việt nam được hưởng chế độ GSP. EU áp dụng chế độ GSP cho 3 nhóm ngành hàng chủ yếu: hàng công nghiệp, hàng dệt may và nông sản chế biến. Đối với hàng công nghiệp và hàng dệt từ các nước đang phát triển nhập khẩu vào EU được miễn thuế nhưng phải tuân thủ theo chế độ hạn ngạch (Quota) theo từng mặt hàng cấp cho từng nước, từng thời gian nhất định hoặc phải tuân thủ theo các hiệp định về tự hạn chế xuất khẩu hàng hoá sang EU. Đối với mặt hàng nông sản chế biến trừ 6 mặt hàng vào EU phải tuân thủ chế độ hạn ngạch như cà fê hoà tan, thuốc lá sợi … thì theo chế độ GSP, EU cho phép gần như 400 mặt hàng nông sản chế biến của các nước thuộc thế giới thứ ba nhập khẩu vào EU được hưởng chế độ ưu đãi nhất và miễn thuế nhập khẩu hoàn toàn cho 700 mặt hàng nhập khẩu từ các nước nghèo nhất vào EU. Đối với Việt nam kể từ năm 1993 EU đã cho hưởng qui chế GSP đối với mặt hàng dệt.




Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:

  • chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập
  • thúê quan phổ cập gsp
  • ,
    Previous
    Next Post »