Ở chương trước, chúng ta đã phân tích xem một doanh nghiệp nói chung phải lựa chọn mức sản lượng như thế nào để có thể tối đa hóa lợi nhuận. Giờđây, chúng ta áp dụng nguyên tắc chung đó vào trường hợp doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo.
1. Cung ứng ngắn hạn
* Lựa chọn sản lượng của doanh nghiệp trong ngắn hạn nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
Điều kiện cần: Trên một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp phải lựa chọn sản lượng sao cho tại đơn vị sản lượng cuối cùng, chi phí biên bằng với mức giá: MC = P. Đây là điều kiện chung áp dụng cho cả ngắn hạn lẫn dài hạn.
Thật vậy, theo nguyên tắc tổng quát về sự lựa chọn sản lượng của một doanh nghiệp nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, mức sản lượng tối ưu phải là mức sản lượng mà tại đơn vị sản lượng cuối cùng, chi phí biên phải bằng doanh thu biên: MC = MR. Tuy nhiên, đối với một doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo, doanh thu biên MR luôn luôn bằng mức giá P. Vì thế, điều kiện MC = MR trở thành điều kiện MC = P.
Hãy xem xét điều kiện trên qua hình 5.2. Tại mức giá thị trường P1 mà doanh nghiệp phải chấp nhận, doanh nghiệp phải đối diện với một đường cầu nằm ngang D. Sản lượng tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp phải tương ứng với giao điểm của đường chi phí biên MC với đường cầu D, nơi mà điều kiện MC = P (trong trường hợp này P = P1) được thỏa mãn. Tuy nhiên, với một đường chi phí biên MC hình chữ U, đường chi phí biên có thể cắt đường cầu nằm ngang tại hai điểm, tương ứng với hai mức sản lượng q1 và q2 như trên hình 5.2. Phải chăng cả hai mức sản lượng này đều đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp?
Tại sản lượng q1, đường MCđang có xu hướng đi xuống. Với những mức sản lượng q lân cận và nhỏ hơn q1, đường MC nằm phía trên đường cầu D, có nghĩa là chi phí biên đang lớn hơn doanh thu biên hay mức giá. Lúc này, như ta đã biết, càng tăng sản lượng thì tổng lợi nhuận càng giảm. Khi sản lượng lân cận và lớn hơn q1, đường MC lại nằm phía dưới đường cầu D, nên tương ứng với những mức sản lượng này, chi phí biên lại nhỏ hơn doanh thu biên. Khi đó, nếu tiếp tục tăng sản lượng sẽ làm cho tổng lợi nhuận tăng. Như vậy, tại sản lượng q1, tổng lợi nhuận là tối thiểu chứ không phải là tối đa.
Ngược lại, nếu xét những điểm sản lượng lân cận với sản lượng q2, nơi mà đường cầu D cắt đường MCở phần đang đi lên, ta có: thứ nhất, tương ứng với các mức sản lượng còn nhỏ hơn q2, chi phí biên còn nhỏ hơn doanh thu biên hay mức giá. Vì vậy, nếu tăng sản lượng, tổng lợi nhuận sẽ tăng. Khi sản lượng lớn hơn q2, chi phí biên lại vượt quá doanh thu biên. Lúc đó, nếu tăng sản lượng thì tổng lợi nhuận sẽ giảm. Như thế, tại sản lượng q2, lợi nhuận sẽđạt giá trị lớn nhất. Nói cách khác, điều kiện cần để tối đa hóa lợi nhuận đối với một doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo là nó phải lựa chọn sản lượng tương ứng với giao điểm của đường cầu mà nó đối diện và phần đường chi phí biên đang đi lên.
Điều kiện bổ sung: Về ngắn hạn, doanh nghiệp chỉ sản xuất (với mức sản lượng tương tự như sản lượng q2 nói ở trên; giờđây, để cho tiện ta đặt tên cho mức sản lượng này là q*) nếu như mức giá thị trường lớn hơn hoặc bằng mức chi phí biến đổi bình quân tối thiểu. Trong trường hợp ngược lại, doanh nghiệp sẽ tạm thời đóng cửa, không sản xuất gì.
Giả sử, trong ngắn hạn, mức giá thị trường Pđang lớn hơn hoặc bằng mức chi phí biến đổi bình quân tối thiểu (P≥AVCmin). Tại mức sản lượng q*, ta có MC(q*) = P. Do đó, MC(q*) ≥AVCmin, tức là đường chi phí biên MCđang nằm ở phía trên đường chi phí biến đổi bình quân AVC (điều này được suy ra từ mối quan hệ giữa đường MC và đường AVC mà chúng ta đã biết). Vì vậy, mức chi phí biên tại sản lượng q* (bằng mức giá P) chắc chắn sẽ lớn hơn mức chi phí biến đổi bình quân tương ứng. Nghĩa là điều kiện bổ sung tổng quát (P≥AVC) được thỏa mãn hay doanh nghiệp có thể sản xuất được ở mức sản lượng này. Trái lại, nếu mức giá thị trường P nhỏ hơn AVC tối thiểu (P<AVCmin), tại mức sản lượng q*, chi phí biên cũng sẽ nhỏ hơn chi phí biến đổi bình quân tối thiểu: MC(q*) = P<AVCmin. Điều đó có nghĩa là lúc này đường chi phí biên đang nằm dưới đường chi phí biến đổi bình quân. Vì thế, chi phí biên tại sản lượng q* (cũng chính bằng mức giá) phải nhỏ hơn chi phí biến đổi bình quân tương ứng (MC(q*) = P<AVC(q*)). Do P<AVC, doanh nghiệp phải đóng cửa.
* Đường cung ngắn hạn của doanh nghiệp
Chúng ta hãy áp dụng mô hình lựa chọn sản lượng nhằm tối đa hóa lợi nhuận nói trên để xem xét cách thức một doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo phản ứng ra sao khi giá thị trường thay đổi.
Ta hãy xuất phát từ một mức giá thị trường P1 tương đối thấp. Giả sử mức giá này nhỏ hơn mức chi phí biến đổi bình quân tối thiểu. Nhưđiều kiện bổ sung chúng ta vừa đề cập, lúc này doanh nghiệp cần đóng cửa. Trong điều kiện giá thấp như vậy, doanh nghiệp không sản xuất.
Doanh nghiệp chỉ bắt đầu sản xuất khi mức giá thị trường tăng lên ít nhất đạt mức P2 = AVCmin. Tại mức giá này, doanh nghiệp có thể sản xuất với sản lượng q2, nơi mà MC(q2) = P2, tương ứng với điểm A trên đồ thị(điểm A là điểm mà đường MC cắt đường AVC chính tại mức AVCmin). Thật ra, nếu sản xuất với sản lượng q2, vì mức giá bằng chính mức AVC tương ứng nên tổng doanh thu của doanh nghiệp mới vừa đủ bù đắp các chi phí biến đổi. Doanh nghiệp vẫn phải gánh chịu khoản lỗ tương đương với mức chi phí cốđịnh giống như khi nó còn đóng cửa. Tuy nhiên, giờđây, việc đóng cửa không còn lợi hơn so với sản xuất. Vì thế, mức giá P2 là ngưỡng tối thiểu để một doanh nghiệp đã tham gia thị trường bắt đầu có thể sản xuất được.
Khi giá thị trường tăng lên đến mức P3 lớn hơn mức giá P2 (= AVCmin) song vẫn nhỏ hơn mức chi phí bình quân tối thiểu ATCmin, sản lượng tối ưu theo quy tắc MC = P là q3, tương ứng với điểm B trên đường MC. Tại sản lượng này, do P3 còn nhỏ hơn ATCmin, nên P3 cũng nhỏ hơn
ATC(q3). Tuy sản xuất song doanh nghiệp vẫn bị thua lỗ. Chỉ có điều mức thua lỗ giờđây thấp hơn mức chi phí cốđịnh, vì P3>AVC(q3) nên sản lượng q3 vẫn là mức sản lượng mà doanh nghiệp lựa chọn.
Nếu giá thị trường tiếp tục tăng lên thành P4, bằng chính với mức ATCmin, sản lượng tối ưu tương ứng của doanh nghiệp sẽ là q4 (ứng với điểm C vừa nằm trên đường MC, vừa nằm trên đường ATC tại điểm ATCmin). Tại mức sản lượng này, lợi nhuận kinh tế của doanh nghiệp bằng 0 (tức doanh nghiệp hòa vốn).
Nếu những biến động trên thị trường tiếp tục đẩy giá lên cao hơn, (thành P5 lớn hơn ATCmin chẳng hạn), thì sản lượng tối ưu khi này là q5 (tương ứng với điểm E trên đường MC). Trong trường hợp này, doanh nghiệp thu được lợi nhuận kinh tế dương vì P5>ATC(q5). (Khi P>ATC thì TR>TC).
Tóm lại, khi giá thị trường quá thấp, doanh nghiệp sẽđóng cửa, không sản xuất. Mức giá P2 là ngưỡng giá cả tối thiểu để doanh nghiệp sản xuất. Tương ứng với các mức giá P2, P3, P4, P5, các mức sản lượng tối đa hóa lợi nhuận mà doanh nghiệp sẵn sàng cung ứng lần lượt là q2, q3, q4, q5. Các điểm A, B, C, E một mặt, đều nằm trên đường chi phí biên, mặt khác, cho chúng ta biết các mức sản lượng mà doanh nghiệp sẵn sàng cung ứng tương ứng với các mức giá thị trường khác nhau. Theo định nghĩa, đó cũng chính là những điểm nằm trên đường cung ngắn hạn của doanh nghiệp.
Đường cung ngắn hạn của doanh nghiệp là một phần của đường chi phí biên ngắn hạn, bắt đầu từđiểm A (tức tại đó AVCmin) trở lên. Do đây là phần đường MCđang đi lên nên đường cung này là một đường dốc lên, thể hiện việc gia tăng sản lượng của doanh nghiệp nhằm đáp ứng với sự lên giá hàng hóa trên thị trường.
2. Cung ứng trong dài hạn
*Lựa chọn sản lượng của doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận trong dài hạn.
Lựa chọn sản lượng của doanh nghiệp trong dài hạn gắn liền với khả năng điều chỉnh được tất cả các yếu tốđầu vào của nó trước những biến động dài hạn của thị trường. Các chi phí mà doanh nghiệp xem xét là các chi phí dài hạn. Doanh thu mà doanh nghiệp dự kiến hay cân nhắc cũng được xây dựng trên mức giá mà doanh nghiệp kỳ vọng trong một khoản thời gian dài. Những điều kiện tối đa hóa lợi nhuận chi phối sự lựa chọn đầu ra của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo trong dài hạn có thểđược suy ra từđiều kiện tổng quát, gắn với đặc điểm chấp nhận giá của doanh nghiệp này.
– Điều kiện cần: Trong dài hạn, để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo phải lựa chọn sản lượng sao cho tại đơn vị sản lượng cuối cùng, chi phí biên dài hạn bằng với mức giá mà doanh nghiệp trông đợi (LMC = P). Điều kiện này là hiển nhiên, như ta đã lý giải trong phần phân tích cung ứng sản phẩm ngắn hạn của doanh nghiệp. Nó chỉ là cụ thể hóa điều kiện cần tổng quát trong trường hợp doanh thu biên MR luôn luôn bằng mức giá P.
– Điều kiện bổ sung: Về dài hạn, doanh nghiệp chỉ sản xuất (với mức sản lượng tương ứng với điểm cắt của phần đi lên của đường chi phí biên dài hạn với đường cầu mà doanh nghiệp đối diện) khi mức giá dài hạn mà nó dự kiến lớn hơn hoặc bằng mức chi phí bình quân tối thiểu dài hạn (P≥LACmin). Trong trường hợp ngược lại (P<LACmin), doanh nghiệp sẽ rút lui khỏi ngành.
Cách lập luận để giải thích điều kiện này cũng tương tự như trường hợp ngắn hạn.
Từ các điều kiện quy định cách thức lựa chọn đầu ra nhằm tối đa hóa lợi nhuận trong dài hạn nói trên, ta cũng có thể hiểu được thực chất của đường cung dài hạn của một doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo.
Như có thể thấy qua hình 5.5, đường LMC biểu thịđường chi phí biên dài hạn của doanh nghiệp. Đường này cắt đường LAC (vì trong dài hạn, tổng chi phí chỉ bao gồm các chi phí biến đổi nên LATC và LAVC thực chất chỉ là một, do đó, có thể ký hiệu chung là LAC) tại điểm A, tương ứng với mức LACmin. Nếu mức giá thị trường là tương đối cao, chẳng hạn là P1 như trên hình 5.5, điều kiện cần cho thấy sản lượng tối ưu mà doanh nghiệp lựa chọn sẽ là q1, tương ứng với điểm C, nơi mà đường cầu nằm ngang ứng với mức giá P1 cắt đường LMC. Tại mức sản lượng này, điều kiện bổ sung (P≥LACmin) được thỏa mãn nên doanh nghiệp sẽ yên tâm sản xuất trong ngành. Khi mức giá hạ xuống đến P2 song vẫn còn lớn hơn LACmin, trượt theo đường LMC, doanh nghiệp phản ứng bằng cách cắt giảm sản lượng xuống thành q2 (tương ứng với điểm B). Chỉ khi nào mức giá hạ xuống thấp hơn LACmin, chẳng hạn như mức giá P3, doanh nghiệp mới không có khả năng trang trải được các chi phí bằng các khoản doanh thu và chịu thua lỗ, nó mới rút lui khỏ ngành. Như vậy, đường cung dài hạn của doanh nghiệp, với tư cách là đường biểu thị mối quan hệ sản lượng và giá cả dài hạn, chính là đường nối liền các điểm nhưA, B, C trên đường LMC. Thực chất, đó là một phần dốc lên của đường LMC, tính từđiểm A, tương ứng với mức giá bằng LACmin, trở lên.
* Vận dụng: Phản ứng của doanh nghiệp sẽ diễn ra như thế nào nếu như giá cả các yếu tốđầu vào tăng lên?
Khi các điều kiện khác vẫn giữ nguyên, đồng thời giá các yếu tốđầu vào tăng lên, để có thể sản xuất ra một mức sản lượng như trước, chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng lên. Hệ quả là các đường ATC, MC của doanh nghiệp đều bị dịch chuyển lên trên. Thoạt tiên, khi những thay đổi này chỉ diễn ra với một doanh nghiệp, giá cân bằng thị trường vẫn chưa thay đổi. Song vì đường MC (phản ánh đường cung của doanh nghiệp) dịch chuyển lên trên từđường MC1 thành đường MC2, nên mức sản lượng tối ưu của doanh nghiệp cũng sẽ thay đổi từq1 thành q2. Doanh nghiệp đã cắt giảm sản lượng để thích ứng với việc giá các yếu tốđầu vào tăng.
Tuy nhiên, tình hình vẫn chưa dừng lại ởđó. Nếu mọi doanh nghiệp trong ngành đều phải đối diện với sự kiện: giá cả các yếu tốđầu vào tăng, chúng đều phản ứng theo cách cắt giảm sản lượng như trên. Sựđồng loạt cắt giảm sản lượng đó sẽ làm thay đổi đường cung chung của thị trường. Đường cung thị trường dịch chuyển lên trên đẩy mức giá cân bằng của thị trường tăng lên từP1 thành P2. Giờđây, đường cầu mà mỗi doanh nghiệp đối diện là đường cầu mới, tương ứng với mức giá P2. Doanh nghiệp sẽ sản xuất ở mức sản lượng q2’ lớn hơn sản lượng q2, mặc dù sản lượng này vẫn nhỏ hơn sản lượng q1 ban đầu.
EmoticonEmoticon