Một ngành cạnh tranh hoàn hảo bao gồm nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất một loại sản phẩm giống hệt nhau. Đường cung của ngành phản ánh mối quan hệ giữa sản lượng mà toàn ngành sẵn sàng cung ứng với mức giá. Về nguyên tắc, sản lượng mà ngành cung ứng tại một mức giá nhất định chính là tổng sản lượng mà các doanh nghiệp trong ngành sẵn sàng cung ứng tại mức giá này. Tuy nhiên, có sự phân biệt giữa ngắn hạn và dài hạn. Trong dài hạn, ngoài những điều ta đã biết, sự gia nhập ngành và rút lui ra khỏi ngành làm cho số lượng doanh nghiệp trong ngành trong dài hạn không giống như trong ngắn hạn.
1. Đường cung ngắn hạn của ngành
Đặc điểm của ngành xét trong ngắn hạn thể hiện ở hai điểm: Thứ nhất, mỗi doanh nghiệp chỉ có khả năng điều chỉnh hạn chế một số yếu tốđầu vào và bị ràng buộc bởi một số yếu đầu vào cốđịnh. Thứ hai, số lượng các doanh nghiệp trong ngành được xem là cốđịnh, với những doanh nghiệp hiện hành đang hoạt động.
Đặc điểm thứ nhất quy định tính chất của đường cung ngắn hạn của từng doanh nghiệp, thể hiện ở hình dạng các đường chi phí biên ngắn hạn, với một điểm đóng cửa cụ thể nào đó. Đặc điểm thứ hai cho thấy có thể xây dựng đường cung ngắn hạn của ngành bằng cách cộng theo chiều ngang các đường cung ngắn hạn của các doanh nghiệp mà số lượng chúng là đã xác định. Cụm từ “cộng theo chiều ngang” ởđây hàm nghĩa rằng: sản lượng mà ngành sẵn sàng cung ứng tại mỗi mức giá chính là tổng sản lượng mà các doanh nghiệp sẵn sàng cung ứng tại mức giá đó. Giả sử tại mức giá Pi sản lượng mà doanh nghiệp j sẵn sàng cung ứng là qij, thì lượng cung tương ứng Qi của ngành là: Qi = ∑qij. Mỗi cặp (Qi,Pi) cho ta một điểm xác định trên đường cung của ngành.
Có thể minh họa nguyên tắc trên bằng đồ thịở hình 5.7, với giảđịnh đơn giản là trong ngành chỉ có 2 doanh nghiệp A và B.
2. Đường cung dài hạn của ngành
Xét về dài hạn, ngành có hai đặc điểm cần lưu ý: Thứ nhất, các doanh nghiệp có khả năng điều chỉnh mọi yếu tốđầu vào. Đặc điểm này khiến cho các đường chi phí dài hạn, trong đó có cả chi phí biên, của mỗi doanh nghiệp không hoàn toàn giống các đường chi phí ngắn hạn. Thứ hai, số lượng doanh nghiệp trong ngành không hoàn toàn là cốđịnh. Do đây là ngành cạnh tranh hoàn hảo nên việc gia nhập ngành hay rút lui ra khỏi ngành của các doanh nghiệp là khá dễ dàng, xét cả về phương diện pháp lý lẫn kinh tế. Khi các doanh nghiệp hiện hành trong ngành đang hoạt động trong tình trạng thuận lợi, thu được lợi nhuận kinh tế dương, ngành trở thành địa chỉđầu tư hấp dẫn đối với mọi doanh nghiệp tiềm năng đang ở ngoài ngành (những người đang chuẩn bị thành lập doanh nghiệp hay những doanh nghiệp đang hoạt động ở các ngành khác). Lợi nhuận kinh tế dương chứng tỏ doanh nghiệp đang thu được lợi nhuận kế toán siêu ngạch, vượt quá mức lợi nhuận kế toán thông thường ở các ngành khác. Điều này tạo ra động cơ thu hút các doanh nghiệp mới nhập ngành, khi mà sự tham gia vào ngành là hoàn toàn tự do. Ngược lại, nếu các doanh nghiệp trong ngành đang ở trong tình trạng thua lỗ, việc dễ dàng rút lui khỏi ngành một cách không tốn kém sẽ khiến cho một số doanh nghiệp sẽ rời ngành. Như vậy, đường cung dài hạn của ngành phải phản ánh được sự dao động về số lượng doanh nghiệp hoạt động trong ngành, gắn liền với động thái gia nhập ngành và rút lui khỏi ngành đó.
Về nguyên tắc, đường cung dài hạn của ngành cũng phải là đường tổng hợp theo chiều ngang từ các đường cung dài hạn của các doanh nghiệp. Chỉcó điều ởđây số lượng các doanh nghiệp trong ngành là không cốđịnh, mà lại thay đổi theo từng mức giá. Tại một mức giá mà các doanh nghiệp hiện hành chỉ thu được lợi nhuận kinh tế bằng 0 (các doanh nghiệp ở trạng thái hòa vốn), các doanh nghiệp mới không có xu hướng nhập ngành, các doanh nghiệp hiện hành trong ngành cũng đủ hài lòng để không rút lui khỏi ngành. Tại mức giá này, lượng cung của ngành chính bằng tổng lượng cung của các doanh nghiệp hiện hành. Ở các mức giá cao hơn, một mặt, các doanh nghiệp hiện hành sẽ gia tăng sản lượng bằng cách trượt theo đường cung dài hạn của mình. Mặt khác, do mức giá cao hơn làm cho các doanh nghiệp hiện hành thu được lợi nhuận kinh tế dương, các doanh nghiệp mới sẽ nhảy vào ngành. Tại những mức giá này, lượng cung của ngành không chỉ bao gồm lượng cung của tất cả các doanh nghiệp hiện hành cộng lại mà còn bao gồm cả sản lượng cung ứng của các doanh nghiệp mới vào ngành. Tại một mức giá thấp hơn so với mức giá hòa vốn, các doanh nghiệp hiện hành trong ngành rơi vào tình trạng thua lỗ. Một số doanh nghiệp sẽ rút lui khỏi ngành (nhờđộng thái này mà cung của ngành sẽ giảm xuống và điều này sẽ kích thích giá lại tăng lên, khiến cho không phải tất cả doanh nghiệp đều rút lui khỏi ngành). Tương ứng với mức giá đó, lượng cung của ngành sẽ bằng tổng lượng cung ban đầu của các doanh nghiệp hiện hành trừđi sản lượng của các doanh nghiệp đi ra khỏi ngành.
Phân tích nói trên cho thấy đường cung dài hạn của ngành thường thoải hơn so với đường cung ngắn hạn của nó. Trong dài hạn, một sự thay đổi tương tự trong mức giá có thể dẫn đến sự thay đổi về sản lượng lớn hơn so với ngắn hạn vì: một mặt, các đường LMC của các doanh nghiệp thường thoải hơn so với các đường SMC (do khả năng lựa chọn đầu vào trong dài hạn phong phú hơn khiến cho chi phí tăng thêm để sản xuất thêm một đơn vị sản lượng có khuynh hướng thấp hơn, ở những mức sản lượng mà doanh nghiệp có thể sản xuất được); mặt khác, vì xu hướng nhập (làm sản lượng của ngành tăng lên nhanh chóng do sự xuất hiện của các doanh nghiệp mới) hoặc xuất ngành (làm sản lượng của ngành giảm xuống nhanh do việc một số doanh nghiệp rời khỏi ngành).
*Trạng thái cân bằng dài hạn của ngành
Cân bằng thị trường chỉ trạng thái mà thị trường tương đối ổn định do không tồn tại những áp lực buộc nó phải thay đổi. Trong ngắn hạn, thị trường chỉ cân bằng khi tổng lượng cung của ngành bằng tổng lượng cầu của những người tiêu dùng, đồng thời sản lượng mà các doanh nghiệp đang cung ứng chính là sản lượng tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên, một trạng thái cân bằng ngắn hạn có thể không duy trì được lâu dài. Nếu mức giá cân bằng thị trường tương đối cao, các doanh nghiệp hiện hành trong ngành thu được lợi nhuận kinh tế dương, thì về dài hạn, điều đó sẽ kích thích các doanh nghiệp mới gia nhập vào ngành. Cung của ngành sẽ tăng, đường cung (ngắn hạn) của ngành sẽ dịch chuyển sang phải và xuống dưới. Giá cân bằng thị trường dần dần hạ xuống. Quá trình nhập ngành này chỉ dừng lại khi giá thị trường hạ xuống đến mức lợi nhuận kinh tế của các doanh nghiệp trong ngành chỉ bằng 0, tức là các doanh nghiệp đạt được mức lợi nhuận kế toán thông thường.
Ngược lại, nếu giá thị trường tương đối thấp, các doanh nghiệp hiện hành trong ngành sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ. Lợi nhuận kinh tế âm khiến cho một số doanh nghiệp sẽ rút lui ra khỏi ngành. Đường cung của ngành sẽ dịch chuyển sang trái và lên trên, biểu thị sự sụt giảm về nguồn cung. Giá cả trên thị trường dần dần lại tăng lên. Mức thua lỗ của các doanh nghiệp trong ngành giảm dần. Quá trình chạy ra khỏi ngành và cùng với nó là giá cả tăng dần chỉ dừng lại khi lợi nhuận kinh tế của các doanh nghiệp bằng 0.
Như vậy, khi lợi nhuận kinh tế của các doanh nghiệp trong ngành bằng 0, số lượng doanh nghiệp là ổn định vì các doanh nghiệp mới không có động cơđi vào ngành, còn các doanh nghiệp hiện hành vẫn có thể hài lòng với mức lợi nhuận kế toán thông thường để không rút lui khỏi ngành. Ngược lại, khi lợi nhuận kinh tế của các doanh nghiệp khác 0, tùy theo trạng thái cụ thể mà có sự nhập ngành của các doanh nghiệp mới hoặc sự rút lui khỏi ngành của các doanh nghiệp cũ. Sự tự do xuất, nhập ngành này làm cho lợi nhuận kinh tế của các doanh nghiệp thay đổi theo hướng hội tụ dần về mức bằng 0. Tóm lại, tại mức lợi nhuận kinh tế bằng 0, ngành đạt đến trạng thái cân bằng dài hạn. Nói một cách khác, cân bằng dài hạn của ngành chỉđạt được khi thị trường thỏa mãn được điều kiện cân bằng ngắn hạn, đồng thời tại đó, lợi nhuận kinh tế của các doanh nghiệp bằng 0. Mức giá cân bằng dài hạn như vậy bằng mức chi phí bình quân dài hạn (P = LAC).
Ta có thể thấy quá trình chuyển đến cân bằng dài hạn của một thị trường cạnh tranh hoàn hảo qua đồ thịở hình 5.8 và 5.9.
Ở hình 5.8, chúng ta chỉ biểu thị phản ứng của một doanh nghiệp trong dài hạn. Thoạt tiên, với mức giá thị trường là P1, lựa chọn sản lượng ngắn hạn của doanh nghiệp là q1, tương ứng với điểm A, điểm cắt của đường chi phí biên ngắn hạn SMC với đường nằm ngang tại mức giá P1. Nếu mức giá này được duy trì lâu dài, doanh nghiệp sẽ mở rộng quy mô nhà máy một cách thích hợp để có thể sản xuất được sản lượng q2, sao cho tại đó chi phí biên dài hạn LMC bằng mức giá P1. Tại mức giá P1, doanh nghiệp có lợi nhuận kinh tế dương cả trong ngắn hạn và dài hạn (ví dụ, trong ngắn hạn, lợi nhuận của doanh nghiệp được biểu thị bằng diện tích của hình chữ nhật bị gạch chéo). Nếu mức giá hạ xuống thành P2 (bằng với mức chi phí bình quân dài hạn tối thiểu), xét về dài hạn, sản lượng tối ưu của doanh nghiệp sẽ là q3. Tại sản lượng đó, doanh nghiệp chỉ thu được lợi nhuận (kinh tế) bằng 0.
Trên đồ thịở hình 5.9, ở phần a, ta thấy nếu mức giá cân bằng thị trường là P1, được duy trì trong một thời gian dài, sản lượng tối ưu mà doanh nghiệp lựa chọn là q1 (tại đó, LMC = P1). Tại trạng thái này, doanh nghiệp có lợi nhuận kinh tế dương. Điều đó sẽ lôi cuốn các doanh nghiệp mới gia nhập ngành. Vì thế, điểm A trên hình 5.9 b, chưa phải là một điểm cân bằng dài hạn của ngành. Sự nhập ngành của những người sản xuất mới sẽ khiến đường cung thị trường dịch chuyển từđường S1 dần dần thành đường S2 và giá thị trường sẽ hạ xuống dần dần thành P2, ngang bằng với mức LACmin. Khi giá là P2, sản lượng tối ưu mà doanh nghiệp lựa chọn là q2. Tại đó, doanh nghiệp chỉ có lợi nhuận kinh tế bằng 0. Tương ứng, điểm cân bằng thị trường B sẽ là điểm cân bằng dài hạn. (Lưu ý rằng ở hình 5.9, thang đo trên trục hoành ởđồ thị a và b là khác nhau, trong đó sản lượng Q của cả thị trường tại một mức giá nào đó là tổng các sản lương q của các doanh nghiệp tại mức giá đó).
* Ngành có đường cung dài hạn nằm ngang, dốc lên, dốc xuống
Điều chỉnh sản lượng cung ứng của ngành trong dài hạn chỉ hoàn tất khi quá trình gia nhập hoặc rời khỏi ngành kết thúc. Lúc đó, ngành đạt đến điểm cân bằng dài hạn. Vì thế, có thể hình dung đường cung dài hạn của ngành như tập hợp các điểm cân bằng dài hạn khác nhau.
Đường cung dài hạn của ngành nói chung là một đường dốc lên. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, nó có thể là một đường nằm ngang hay dốc xuống.
Đường cung dài hạn của ngành là một đường nằm ngang khi hai điều kiện sau được thỏa mãn: Thứ nhất, các đường chi phí của các doanh nghiệp trong ngành là giống hệt nhau. Thứ hai, giá cả các yếu tốđầu vào không thay đổi khi ngành thay đổi sản lượng. Điều kiện thứ nhất nói chung được thỏa mãn trong hoàn cảnh thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Một ngành cạnh tranh hoàn hảo giảđịnh rằng chi phí xuất, nhập ngành là bằng 0. Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp đã ở trong ngành lâu năm cũng không tạo được ưu thếđáng kể nào về kinh nghiệm sản xuất, bí quyết công nghệ… đối với các doanh nghiệp mới. Vì thế, công nghệ của ngành thường thuộc loại khá đơn giản. Ngoài ra, cần chú ý rằng, chi phí mà chúng ta nói đến là chi phí kinh tế. Do vậy, nếu một doanh nghiệp có thể có chi phí sản xuất thấp hơn so với các doanh nghiệp khác nhờ có được địa điểm sản xuất thuận lợi hay nhờ tận dụng được một sốđầu vào đặc biệt, thì đó chỉ là xét trên quan điểm chi phí kế toán. Nếu không sản xuất, doanh nghiệp có thể cho thuê lại địa điểm này và có thể thu được khoản tiền thuê lớn hơn so với các địa điểm kém thuận lợi hơn. Xét trên quan điểm chi phí cơ hội, ưu thế vềđịa điểm sản xuất của doanh nghiệp sẽ không còn nữa. Vì vậy, chi phí sản xuất của các doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo về cơ bản là giống nhau.
Giảđịnh điều kiện thứ hai được thỏa mãn, nghĩa là khi ngành mở rộng sản lượng, mặc dù nhu cầu sử dụng đầu vào tăng lên song giá cả của chúng vẫn giữ nguyên như trước. Như thế, các đường chi phí của doanh nghiệp như chi phí bình quân hay chi phí biên sẽ không thay đổi khi quy mô sản lượng của doanh nghiệp tăng lên.
Giả sử thị trường đang ở một trạng thái cân bằng dài hạn nhưđiểm A, giao điểm của đường cầu D1 và đường cung S1 trên hình 5.10, phần b. Mức giá thị trường tương ứng là P1. Tại mức giá này doanh nghiệp lựa chọn sản lượng tối ưu là q1 (hình 5.10, phần a). Lợi nhuận (kinh tế) của doanh nghiệp là bằng 0. Nếu vì một lý do nào đó, cầu về hàng hóa tăng lên, đường cầu thị trường sẽ dịch chuyển sang phải (từD1 thành D2). Trước tiên, trong ngắn hạn, giá thị trường sẽ tăng lên thành P2. Tại mức giá mới cao hơn này, doanh nghiệp sẽ tăng sản lượng cung ứng lên thành q2, phù hợp với nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận. Giờđây, doanh nghiệp bắt đầu thu được lợi nhuận kinh tế dương. Điều này, như chúng ta đã biết, sẽ thu hút các doanh nghiệp mới gia nhập ngành. Nguồn cung của ngành tăng lên, đường cung của thị trường sẽ dịch chuyển sang phải. Giá hàng hóa trên thị trường dần dần hạ xuống cho đến khi lợi nhuận của doanh nghiệp lại trở về bằng 0. Thị trường lại trở về một điểm cân bằng dài hạn, song tương ứng với đường cầu mới là D2. Đó chính là điểm B trên hình
5.10, b. Vì các đường chi phí của các doanh nghiệp là không đổi, nên mức giá cân bằng dài hạn vẫn là P1. Điểm B ngang bằng với mức giá P1 nên cũng có tung độ nhưđiểm A. Kết quả là đường cung dài hạn của ngành chính là đường nằm ngang AB. (Khi mức giá cân bằng lại trở vềP1, mỗi doanh nghiệp lại quay về lựa chọn mức sản lượng q1. Tuy nhiên, giờđây do có thêm các doanh nghiệp mới tham gia vào ngành, nên sản lượng của ngành là Q2 chứ không phải là Q1).
Đối với một ngành cạnh tranh hoàn hảo có chi phí không đổi, đường cung dài hạn của nó là một đường nằm ngang tại mức giá bằng chi phí bình quân dài hạn tối thiểu.
Trường hợp trên tương đối ít xảy ra. Thông thường, khi các doanh nghiệp trong ngành đồng loạt gia tăng sản lượng, nhu cầu về các yếu tốđầu vào của ngành tăng lên. Do đó, giá các yếu tốđầu vào cũng tăng lên. Ví dụ, khi nhu cầu về lương thực tăng lên, để có thể cung ứng sản lượng lương thực lớn hơn, những người nông dân phải mở rộng diện tích gieo trồng, sử dụng nhiều lao động, phân bón cũng như một sốđầu vào khác hơn. Những đất đai kém màu mỡ hơn dần dần được đưa ra khai thác. Chi phí về sử dụng đất đai như một yếu tốđầu vào dần dần tăng lên. Điều tương tự cũng có thể xảy ra với lao động, phân bón và các đầu vào khác. Trong trường hợp này, sản lượng đầu ra của ngành tăng lên kéo theo giá cả các yếu tốđầu vào tăng lên. Các đường chi phí của doanh nghiệp dịch chuyển lên trên. Mức giá đầu ra đảm bảo cho doanh nghiệp hòa vốn trong dài hạn, tức mức giá bằng chi phí bình quân dài hạn tối thiểu tăng lên, vì chi phí này đã cao hơn trước. Tình hình này sẽ tác động đến đường cung dài hạn của ngành. Chúng ta hãy xuất phát từ một trạng thái ban đầu giống như trường hợp ngành có chi phí không đổi: giá cân bằng dài hạn ban đầu là P1, với điểm cân bằng dài hạn trên thị trường là A, sản lượng mà doanh nghiệp lựa chọn là q1. Khi cầu về hàng hóa tăng lên và đường cầu mới là D2, giá cân bằng ngắn hạn trên thị trường tăng lên thành P2. Phản ứng với điều này, các doanh nghiệp đều gia tăng sản lượng lên thành q2. Tại mức giá P2 và sản lượng q2, doanh nghiệp thu được lợi nhuận kinh tế dương. Các doanh nghiệp mới bắt đầu xâm nhập vào ngành. Việc sản lượng cung ứng của ngành tăng lên do các doanh nghiệp đồng loạt gia tăng sản lượng và do xuất hiên thêm nhiều doanh nghiệp mới làm cầu về các yếu tốđầu vào và giá cả của chúng tăng lên. Các đường chi phí bình quân và chi phí biên của doanh nghiệp dịch chuyển lên trên. Giờđây, mức chi bình quân dài hạn tối thiểu tăng lên khiến cho mức giá cân bằng dài hạn mới của ngành không còn giữở mức giá P1 như cũ mà tăng lên thành P3. Vì thế, quá trình xâm nhập ngành và dịch chuyển đường cung của ngành sang bên phải sẽ dừng lại với đường cung S3 – đường này sẽ cắt đường cầu D2 tại điểm C tương ứng với mức giá P3. Tại mức giá P3, lợi nhuận kinh tế của các doanh nghiệp bằng 0. C trở thành điểm cân bằng dài hạn mới của ngành. Đường nối A với C thể hiện đường cung dài hạn của ngành. Vì P3 lớn hơn P1, đường này là một đường dốc lên.
Trong trường hợp ngược lại (chỉ xảy ra với những ngành sản xuất sản phẩm mới như máy tính…), nếu cùng với sự gia tăng sản lượng đầu ra của ngành, giá cả các yếu tốđầu vào lại giảm xuống, đường cung dài hạn của ngành sẽ là một đường dốc xuống. Cách giải thích điều này về lô gic, hoàn toàn tương tự như trường hợp trên.
EmoticonEmoticon