1. Một vài khái niệm có liên quan: tổng doanh thu, doanh thu biên, lợi nhuận.
Tổng doanh thu (TR): là tổng số tiền mà doanh nghiệp thu được nhờ bán hàng. Khi tính tổng doanh thu tương ứng với khối lượng hàng hóa qđược tiêu thụ, ta có:
TR = TR(q) = P.q
Trong đó P chính là mức giá tính cho mỗi đơn vị hàng hóa.
Nói cách khác, tổng doanh thu trước hết là một hàm số của sản lượng. Sự thay đổi của mức sản lượng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của tổng doanh thu. Tuy nhiên, tổng doanh thu còn phụ thuộc vào mức giá P. Đến lượt mình, mức giá P cũng thường không độc lập với mức sản lượng. Trừ trường hợp quy mô sản lượng của doanh nghiệp là tương đối nhỏ so với quy mô hàng hóa được giao dịch chung trên thị trường, nói chung nếu doanh nghiệp muốn bán được một khối lượng hàng hóa lớn hơn, nó thường phải hạ giá. Điều này thực ra xuất phát từ quy luật cầu: khi mức giá hàng hóa hạ xuống, người tiêu dùng sẵn lòng mua một khối lượng hàng hóa lớn hơn, tức là doanh nghiệp có khả năng bán được nhiều hàng hóa hơn. Ngược lại, khi mức giá tăng lên, lượng cầu về hàng hóa của người tiêu dùng giảm xuống, doanh nghiệp chỉ có thể bán được một khối lượng hàng hóa ít hơn. Vì thế, có thể coi mức giá P cũng là một hàm số của sản lượngq.
Trong trường hợp mức giá P là một hằng số của sản lượng q, đường tổng doanh thu là một đường thẳng dốc lên, với độ dốc không đổi là P. Ở trường hợp điển hình hơn, khi P phụ thuộc vào sản lượng q, thoạt tiên, tổng doanh thu thường tăng lên khi sản lượng hàng hóa bán được tăng lên do mối lợi bắt nguồn từ việc tăng sản lượng bán ra lớn hơn khoản thiệt hại bắt nguồn từ việc giảm giá. Đến một ngưỡng sản lượng nào đó, việc tiếp tục tăng sản lượng sẽ làm tổng doanh thu giảm xuống. Lúc này, mối lợi của việc tăng sản lượng không còn bù được những thiệt hại do phải giảm đơn giá hàng hóa liên quan đến một lượng hàng hóa lớn.
Hình dạng đường tổng doanh thu được minh họa bằng hình 4.14.
Doanh thu biên (MR) là doanh thu có thêm được nhờ sản xuất và bán ra thêm một đơn vị hàng hóa. Nếu ký hiệu TRq là tổng doanh thu có được nhờ bán một khối lượng hàng hóa q và TR(q-1) là tổng doanh thu nhờ bán một khối lượng hàng hóa ít hơn (q-1), thì doanh thu biên của đơn vị hàng hóa thứq (đơn vị hàng hóa cuối cùng trong khối lượng q) là:
MRq = TRq – TR(q-1)
Ví dụ, khi bán một lô hàng gồm 10 chiếc xe máy, doanh nghiệp có thểđặt giá (và được thị trường chấp nhận) mỗi chiếc xe máy là 20 triệu đồng. Tổng doanh thu của lô hàng này là: 20 triệu đồng/1 xe x 10 xe = 200 triệu đồng. Để bán một lô hàng gồm 11 chiếc xe máy, giả sử doanh nghiệp phải hạ giá mỗi chiếc xe máy xuống còn 19,5 triệu đồng/1xe máy. Khi này, tổng doanh thu của lô hàng thứ hai là: 19,5 triệu đồng/1 xe x
11 xe = 214,5 triệu đồng. Như vậy, doanh thu biên của chiếc xe máy thứ 11 là: 14,5 triệu đồng (= 214,5 triệu đồng – 200 triệu đồng).
Một cách tổng quát hơn, người ta có thểđịnh nghĩa doanh thu biên tại một điểm sản lượng nào đó là tỷ số giữa mức gia tăng trong tổng doanh thu so với mức gia tăng trong sản lượng:
MR = ∆TR/∆q
Theo công thức trên, doanh thu biên cũng là một hàm số của sản lượng. Tại một sản lượng q, doanh thu biên của đơn vị sản lượng cuối cùng chính là giá trịđạo hàm của hàm tổng doanh thu tại mức sản lượng q. Nói một cách tương đương, doanh thu biên chính là độ dốc của đường tổng doanh thu tai mỗi điểm sản lượng. Khi doanh nghiệp buộc phải hạ giá trong trường hợp muốn tăng sản lượng bán ra, quá một ngưỡng sản lượng nhất định, doanh thu biên có xu hướng giảm dần theo đà tăng của sản lượng.
Lợi nhuận: là chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí ứng với mỗi mức sản lượng. Nếu ký hiệu π(q) là lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được khi sản xuất một sản lượng hàng hóa q, ta có:
π(q) = TR(q) – TC(q)
Dễ nhận thấy rằng lợi nhuận cũng là một hàm số của sản lượng: nó thay đổi cùng với sự thay đổi của mức sản lượng.
Trong công thức trên, nếu tổng chi phí là tổng chi phí kế toán, lợi nhuận sẽđược gọi là lợi nhuận kế toán. Còn nếu tổng chi phí là tổng chi phí kinh tế, lợi nhuận tương ứng là lợi nhuận kinh tế. Tương ứng với cùng một mức sản lượng q của doanh nghiệp, lợi nhuận kinh tế thường nhỏ hơn lợi nhuận kế toán.
Nếu chỉ dựa vào thông tin về lợi nhuận kế toán, người ta khó nói được một cách chắc chắn rằng doanh nghiệp đang kinh doanh thực sự có hiệu quả hay không. Ví dụ, nếu một doanh nghiệp có mức lợi nhuận kế toán của một năm nào đó là 100 triệu đồng, nó có thểđang kinh doanh hiệu quả khi lượng vốn mà nó phải đầu tư không nhiều (chẳng hạn, 200 triệu đồng). Ngược lại, nếu để có được khoản lợi nhuận trên, doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng vốn đầu tư tương đối lớn (chẳng hạn, 10 tỷđồng), thì tuy có lợi nhuận, doanh nghiệp vẫn có thểđang ở tình trạng hoạt động không hiệu quả.
Trái lại, mức lợi nhuận kinh tế có thể cho chúng ta những kết luận rõ ràng về tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh tương ứng mà chúng ta đang xem xét. Cụ thể, khi lợi nhuận kinh tế do một hoạt động nào đó của doanh nghiệp mang lại là không âm, ta có khẳng định được rằng, hoạt động đó là hiệu quả. Một khi mà tổng doanh thu của hoạt động này bù đắp được tất cả các khoản chi phí có liên quan, kể cả những chi phi cơ hội “ẩn” (vốn thể hiện lợi ích của các phương án thay thế tốt nhất bị bỏ qua), thì rõ ràng đó là một phương án sử dụng nguồn lực tốt nhất hay hiệu quả nhất. Chỉ khi lợi nhuận kinh tế nhỏ hơn 0, doanh nghiệp mới có khả năng rơi vào trạng thái chưa hiệu quả: khi mà doanh thu chưa bù đắp được toàn bộ các chi phí kinh tế, chắc chắn có phương án thay thế cho phép doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả hơn.
Khi phân tích về hành vi của các doanh nghiệp, cũng như khi nói về chi phí, ta hàm ý đó là chi phí kinh tế, khái niệm lợi nhuận thường được sử dụng với tư cách là lợi nhuận kinh tế.
2. Các điền kiện tối đa hóa lợi nhuận
Điều kiện cần: để tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp phải lựa chọn mức sản lượng sao cho ởđơn vị sản phẩm cuối cùng, doanh thu biên và chi phí biên của nó là bằng nhau: MR = MC
Trong ngắn hạn, điều kiện này có nghĩa là doanh thu biên của đơn vị sản phẩm cuối cùng mà doanh nghiệp lựa chọn phải bằng chi phí biên ngắn hạn của nó: MR = SMC
Còn trong dài hạn, điều kiện này thể hiện ra là: trong trường hợp doanh nghiệp có thể thay đổi được tất cả các yếu tốđầu vào, mức sản lượng tối đa hóa lợi nhuận sẽ là mức sản lượng mà tại đơn vị sản phẩm cuối cùng, doanh thu biên mà doanh nghiệp thu thêm được bằng với chi phí biên dài hạn tại đó: MR = LMC
Để chứng minh điều kiện trên, sự phân biệt ngắn hạn và dài hạn ởđây là không cần thiết. Giả sử doanh nghiệp đang sản xuất một loại hàng hóa tại một mức sản lượng q nào đó. Tại mức sản lượng này, doanh nghiệp thu được một mức lợi nhuận (đương nhiên là lợi nhuận kinh tế) nhất định. Nó đang cân nhắc xem có nên sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm nữa hay không? Đểsản xuất thêm đơn vị sản phẩm này, chi phí mà nó phải bỏ ra thêm là chi phí biên MC(q+1); còn lợi ích mà nó thu thêm được chính là doanh thu biên MR(q+1). Nếu đại lượng thứ nhất còn nhỏ hơn đại lượng thứ hai, việc sản xuất thêm đơn vị sản phẩm trên là có lợi đối với doanh nghiệp vì nó có thêm lợi nhuận. Nói cách khác, sản phẩm trên làm gia tăng quỹ lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu trước đó, lợi nhuận của doanh nghiệp là dương, việc sản xuất thêm làm tăng thực sự mức lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu mức lợi nhuận trước đó của doanh nghiệp là âm (doanh nghiệp đang thua lỗ), nhờ việc sản xuất thêm, mức thua lỗ của doanh nghiệp sẽ giảm xuống. Về mặt đại số, cả hai trường hợp đều biểu hiện sự gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Điều này cho thấy, khi theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp phải sản xuất thêm đơn vị sản phẩm thứ (q+1) này. Bằng lậpluận tương tự như vậy, ta chứng minh được rằng: doanh nghiệp cũng sẽ phải sản xuất thêm đơn vị sản phẩm tiếp theo – đơn vị thứ (q+2) – nếu như chi phí biên của đơn vị sản phẩm này vẫn nhỏ hơn doanh thu biên của nó. Tổng quát hơn, ta có thể khẳng định: chừng nào mà chi phí biên tại đơn vị sản phẩm cuối cùng của một mức sản lượng còn nhỏ hơn doanh thu biên tại đó, để tối đa hóa lợi nhuận, chừng đó doanh nghiệp còn phải gia tăng sản lượng.
Cũng theo một lô gic tương tự, có thể thấy, chừng nào mà chi phí biên tại đơn vị sản phẩm cuối cùng của một mức sản lượng lớn hơn doanh thu biên tại đó, thì việc sản xuất đơn vị sản phẩm cuối cùng trên sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Muốn tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp phải cắt giảm sản lượng.
Hai nhận xét trên kết hợp lại với nhau cho thấy, doanh nghiệp chỉ có mức sản lượng tối ưu khi theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nếu tại đơn vị sản phẩm cuối cùng, chi phi biên và doanh thu biên là bằng nhau.
Cần lưu ý rằng, theo cách mà chúng ta chứng minh nói trên, mức sản lượng q*, mà tại đó doanh thu biên MR bằng chi phí biên MC, chỉ là mức sản lượng tối ưu (sản lượng cho phép doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận) khi mà ở mức sản lượng q nhỏ hơn (q<q*) chi phí biên còn nhỏ hơn doanh thu biên, đồng thời, tại mức sản lượng q lớn hơn (q>q*) thì chi phí biên lại vượt quá doanh thu biên. Trong trường hợp ngược lại, nếu tại các mức sản lượng nhỏhơn q*, chi phí biên lại lớn hơn doanh thu biên, đồng thời tại các mức sản lượng lớn hơn q*, chi phí biên lại nhỏ hơn doanh thu biên, thì dù tại q*, doanh thu biên bằng chi phí biên, mức sản lượng này không phải là mức sản lượng tối đa hóa lợi nhuận. Trái lại, đó chính là mức sản lượng tối thiểu hóa lợi nhuận của doanh nghiệp.
Điều kiện biên (doanh thu biên bằng chi phí biên) nói trên chỉ mới là điều kiện cần. Nó chỉ ra mức sản lượng có thểđem lại cho doanh nghiệp khoản lợi nhuận lớn nhất, hiểu theo nghĩa đại số. Trong trường hợp lợi nhuận của doanh nghiệp là luôn luôn âm, mức lợi nhuận tối đa cần được hiểu một cách thực tế là mức lỗ tối thiểu hay mức thua lỗ thấp nhất. Nếu điều này xảy ra, việc doanh nghiệp có nên sản xuất ở mức sản lượng q* “tối ưu” theo điều kiện biên nói trên hay không sẽ tùy thuộc vào cân nhắc, so sánh của nó với trường hợp nó không sản xuất một đơn vị sản phẩm nào.
Điều kiện bổ sung
– Ngắn hạn: Về ngắn hạn, dù không sản xuất gì, doanh nghiệp vẫn phải gánh chịu khoản chi phí cốđịnh. Điều đó cũng có nghĩa là, nếu đóng cửa không sản xuất một đơn vị sản lượng nào, doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu một khoản lỗ tương đương với chi phí cốđịnh (π = -SFC). Nếu việc sản xuất tại mức sản lượng q* nói ở trên có khả năng đem lại cho doanh nghiệp hoặc một khoản lãi thực sự hoặc một khoản lỗ thấp hơn, thì đối với doanh nghiệp, sản xuất là có lợi hơn so với đóng cửa. Nói cách khác, trong ngắn hạn, doanh nghiệp chỉ nên sản xuất khi tổng doanh thu ít nhất cũng bù đắp được toàn bộ các khoản chi phí biến đổi, tức là TR phải lớn hơn hoặc bằng SVC (TR≥SVC). Điều này tương đương với điều kiện mức giá P phải lớn hơn hoặc bằng chi phí biến đổi bình quân SAVC (P≥SAVC). Trong trường hợp ngược lại (TR<SVC hay P<SAVC), doanh nghiệp nên đóng cửa. Chính vì điều kiện này mà mức giá P = SAVCđược gọi là điểm đóng cửa.
– Dài hạn: Trong dài hạn, doanh nghiệp không bị gánh chịu những khoản chi phí cốđịnh. Nếu nó quyết định không sản xuất gì (trong dài hạn, điều đó cũng có nghĩa là doanh nghiệp không tham gia vào ngành), nó sẽ không phải chịu một khoản thua lỗ nào. Vì thế, điều kiện để nó có thể tham gia vào một ngành sản xuất là ít nhất không bị thua lỗ (nên nhớ rằng khi doanh nghiệp chỉ có lợi nhuận kinh tế bằng 0, nó vẫn hoàn toàn có thể hài lòng). Nói cách khác, doanh nghiệp chỉ tham gia vào ngành nếu tổng doanh thu mà nó dự kiến trong dài hạn lớn hơn hoặc bằng tổng chi phí dài hạn (TR≥LTC) hay diễn đạt một cách tương đương: mức giá P phải lớn hơn hoặc bằng chi phí bình quân dài hạn (P≥LATC). Trong trường hợp ngược lại, nếu TR<LTC hay P<LATC, doanh nghiệp sẽ rút lui khỏi ngành.
Có thể tóm tắt điều kiện tối đa hóa lợi nhuận trong việc lựa chọn sản lượng đối với một doanh nghiệp tổng quát như sau:
Về ngắn hạn, thứ nhất,doanh nghiệp phải chọn mức sản lượng q* nếu như tại đó MR = SMC; thứ hai, doanh nghiệp chỉ nên sản xuất tại mức sản lượng này nếu như tại đó, P≥SAVC.
Về dài hạn, thứ nhất, doanh nghiệp phải lựa chọn mức sản lượng q* nếu như tại đó MR = LMC; thứ hai, sản lượng q* này chỉđáng được lựa chọn để sản xuất nếu như tại đó P≥LATC.
3. Lựa chọn sản lượng của doanh nghiệp khi nhằm mục tiêu tối đa hóa doanh thu
Ngoài mục tiêu lợi nhuận, doanh nghiệp vẫn có thể có những mục tiêu khác để theo đuổi. Trong sốđó, mục tiêu về doanh thu cũng là một loại mục tiêu quan trọng. Trong những khoảng thời gian nhất định, chẳng hạn, khi thâm nhập vào một thị trường mới, doanh nghiệp có thể quan tâm nhiều đến việc mở rộng thị phần để khẳng định vị thế của mình trước các đối thủ. Lúc này, có thểưu tiên của doanh nghiệp là tối đa hóa doanh thu hơn là tối đa hóa lợi nhuận.
Mức sản lượng nào cho phép doanh nghiệp tối đa hóa doanh thu? Chúng ta biết rằng, khi sản xuất thêm một đơn vị sản lượng, doanh thu biên của đơn vị này chính là khoản doanh thu gia tăng của doanh nghiệp. Chừng nào doanh thu biên còn dương, chừng đó việc gia tăng sản lượng còn đem lại cho doanh nghiệp những khoản doanh thu bổ sung. Vì thế, điểm sản lượng tối đa hóa doanh thu của doanh nghiệp chính là điểm mà tại đó, mức doanh thu biên là bằng 0. Vượt quá mức sản lượng này, theo xu hướng doanh thu biên giảm dần, doanh thu biên sẽ nhỏ hơn 0. Nếu tiếp tục sản xuất, tổng doanh thu của doanh nghiệp sẽ giảm.
Lập luận vềđiều kiện tối đa hóa doanh thu nói trên có thể không đúng nếu nhưđường doanh thu biên không phải là đường dốc xuống, phản ánh mối quan hệ nghịch giữa doanh thu biên và sản lượng. Trong trường hợp đặc biệt, khi mà doanh nghiệp không chi phối được giá cả hàng hóa, mức giá mà nó bán được hoàn toàn không phụ thuộc vào mức sản lượng của nó, thì có thể coi doanh thu biên như một hằng số, độc lập với sản lượng (trường hợp này chúng ta sẽ xem xét ở chương sau). Với trường hợp này, càng sản xuất nhiều, tổng doanh thu của doanh nghiệp càng lớn. Tuy nhiên, như sau này chúng ta sẽ chỉ ra, sản lượng của doanh nghiệp chỉ không ảnh hưởng đến mức giá của hàng hóa mà nó bán trên thị trường khi doanh nghiệp chỉ là người sản xuất với quy mô tương đối nhỏ so với quy mô chung của thị trường.
EmoticonEmoticon