Nhu cầu sớm đưa Công ước của ASEAN về chống khủng bố vào cuộc sống




a. Tham gia của Việt Nam trong quá trình xây dựng Công ước


Căn cứ vào quan điểm nhất quán chống khủng bố của Nhà nước Việt Nam, đại diện Việt Nam gồm chuyên gia của Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và Bộ Công an đã tích cực tham gia và có nhiều đóng góp thực chất trong quá trình thương lượng dự thảo Công ước của ASEAN về Chống khủng bố. Đối với phạm vi điều chỉnh của Công ước, xuất phát từ thực tế là LHQ và các tổ chức chuyên môn của LHQ như IMO, ICAO đã thông qua một loạt các Công ước, Nghị định thư liên quan hợp tác chống khủng bố, do đó Việt Nam chủ trương việc xây dựng văn bản pháp lý khu vực của ASEAN cần thừa kế và phát huy được những kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế liên quan và và các quy định của các văn bản pháp lý đa phương hiện hành. Về vấn đề định nghĩa khủng bố, chúng ta cũng cho rằng xét từ góc độ pháp lý, việc có được một định nghĩa khủng bố trong dự thảo Công ước là một điều rất cần thiết và quan trọng. Tuy nhiên kinh nghiệm đàm phán cho thấy, để có được một sự đồng thuận trong vấn đề này là một việc rất khó và cũng chưa biết bao giờ thì các nước có thể thống nhất được. Vấn đề này cũng đã được trao đổi không ít lần tại các diễn đàn của LHQ, nhưng cho đến nay bế tắc vẫn chưa được khai thông. Nội luật của các nước thành viên ASEAN về vấn đề này cũng còn khác nhau, có nước có định nghĩa khủng bố, nhưng có nước không định nghĩa. Do đó, trong quá trình thương lượng dự thảo Công ước của ASEAN về Chống khủng bố, chúng ta đã trao đổi và thống nhất với các nước khác về cách tiếp cận linh hoạt là Công ước của ASEAN không có định nghĩa về tội khủng bố, mà viện dẫn đến các tội danh đã được xác định trong các Công ước và Nghị định thư đa phương hiện hành về chống khủng bố; sau này tùy tiến triển của tình hình các nước sẽ cùng nhau xem xét và thỏa thuận về việc bổ sung định nghĩa khủng bố.


Tháng 12/2007, khi ASEAN SOM xem xét lần cuối để thông qua dự thảo Công ước, Đoàn Việt Nam thấy còn có một vài điểm trong dự thảo chưa thực sự như mong muốn, cần được hoàn thiện thêm và đề nghị giao Nhóm chuyên gia rà soát, xem xét và hoàn chỉnh dự thảo. ASEAN SOM đồng ý với đề xuất của Đoàn Việt Nam và cuộc họp ngoài kế hoạch cấp chuyên viên đã hoàn thiện thêm nhiều quy định của dự thảo. Ví dụ về thủ tục có hiệu lực của Công ước, dự thảo nói rằng Công ước sẽ có hiệu lực vào ngày thứ 30 sau khi văn kiện phê chuẩn hoặc phê duyệt thứ 6 được lưu chiểu với Ban Thư ký, và đối với những nước nộp văn kiện phê chuẩn, phê duyệt sau khi Công ước đã có hiệu lực thì Công ước sẽ có hiệu lực vào ngày nước đó nộp văn kiện phê chuẩn hoặc phê duyệt. Đoàn Việt Nam thấy rằng một khả năng có thể xảy ra là có nước (hoặc một số nước) sẽ nộp văn kiện phê chuẩn hoặc phê duyệt của họ sau khi văn kiện phê chuẩn hoặc phê duyệt thứ 6 đã nộp, nhưng trước thời điểm Công ước bắt đầu có hiệu lực. Vậy Công ước sẽ có hiệu lực đối với những nước đó vào lúc nào? Điều này dự thảo Công ước còn để ngỏ, nếu không khắc phục điểm này thì có khả năng tạo nên tranh chấp pháp lý khi giải thích và áp dụng Công ước trong tương lai. Nhằm khắc phục lỗ hổng pháp lý này, Đoàn Việt Nam đề nghị bổ sung thêm một khoản nữa vào dự thảo và cuối cùng các nước ASEAN đã nhất trí bổ sung thêm một khoản mới vào Điều XXI (khoản 2) nêu rõ, đối với những trường hợp như vậy, Công ước sẽ có hiệu lực đúng vào ngày Công ước bắt đầu có hiệu lực.


b. Khẩn trương hoàn thành thủ tục phê chuẩn Công ước


Trước khi Công ước của ASEAN về Chống khủng bố ra đời, các cam kết của khối ASEAN trong lĩnh vực này ở cấp độ khu vực chủ yếu là cam kết chính trị và được nêu trong Tuyên bố năm 2001 về chống khủng bố và các văn kiện chính trị khác của ASEAN cũng như các Tuyên bố về chống khủng bố giữa ASEAN và một số đối tác như Mỹ, Úc, Ấn Độ, Pakistan. Vì thế, dư luận khu vực và dư luân quốc tế đều nhất trí cho rằng việc xây dựng Công ước của ASEAN về Chống khủng bố là một bước ngoặt quan trọng trong nỗ lực chung của các nước ASEAN nhằm ngăn ngừa và trừng trị tội khủng bố. Yêu cầu đặt ra hiện nay là các nước ASEAN khẩn trương hoàn thành các thủ tục pháp lý nội bộ của mình (phê chuẩn hoặc phê duyệt) để các quy định của Công ước sớm đi vào cuộc sống. Tháng 10/2007 Singapore đã phê chuẩn Công ước, và tháng 3/2008 Thái Lan cũng đã hoàn thành thủ tục pháp lý của mình, còn các nước ASEAN khác đang trong quá trình chuẩn bị. Ở Việt Nam, theo thông tin được biết, tình hình chuẩn bị các thủ tục nội bộ của Việt Nam để Công ước có hiệu lực vẫn đang dừng lại ở cấp bộ, ngành.


Cũng như nhiều nước khác trên thế giới, việc Nhà nước Việt Nam tham gia ký kết, gia nhập một điều ước quốc tế thường được quyết định bởi hai điều kiện then chốt:

  • Một là, Nhà nước Việt Nam có đủ khả năng thực hiện các cam kết, các quyền và nghĩa vụ theo điều ước quốc tế đó – điều kiện “đủ” – và
  • Hai là, Nhà nước Việt Nam có nhu cầu áp dụng điều ước quốc tế đó để thúc đẩy việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực mà Việt Nam quan tâm – điều kiện “cần”.

Về khả năng thực hiện các cam kết trong Công ước: Các nguyên tắc hợp tác và các quy định nêu trong Công ước hoàn toàn phù hợp các nguyên tắc pháp luật, chủ trương và chính sách đối ngoại của Nhà nước Việt Nam. Các quyền và nghĩa vụ theo Công ước của ASEAN về Chống khủng bố cũng tương tự như quyền và nghĩa vụ quy định trong các Công ước, Nghị định thư đa phương về chống khủng bố mà Việt Nam đã tham gia. Việc tham gia Công ước cũng không tạo thêm gánh nặng về nghĩa vụ tài chính đối với Việt Nam. Trước khi trình Thủ tướng Chính phủ kiến nghị ký Công ước, các bộ, ngành hữu quan đã nghiên cứu kỹ lưỡng và thống nhất là Nhà nước Việt Nam có đủ khả năng gánh vác các nghĩa vụ và quyền hạn theo Công ước và cũng chính trên cơ sở như vậy, Chính phủ mới quyết định ký Công ước và đã giao các bộ, ngành hữu quan triển khai các thủ tục pháp lý liên quan để Công ước có hiệu lực.


Về nhu cầu vận dụng Công ước: Thời gian qua đã xảy ra một số vụ khủng bố nhằm chống lại Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là chống lại các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, kể cả các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam đóng tại thủ đô một số nước ASEAN. Việt Nam đã yêu cầu các nước liên quan xử lý thỏa đáng các vụ khủng bố đó qua việc nghiêm trị các kẻ khủng bố liên quan hoặc trao bọn khủng bố để các cơ quan pháp luật của Việt Nam xét xử. Một điều đáng tiếc là không phải lúc nào tòa án nước sở tại cũng xét xử thỏa đáng các vụ khủng bố chống lại Nhà nước Việt Nam, cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài. Khi Việt Nam đề nghị các nước hữu quan dẫn độ bọn khủng bố chống lại Nhà nước Việt Nam, cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam để tòa án Việt Nam xét xử thì yêu cầu của Việt Nam lại không được đáp ứng thỏa đáng với lý do hoặc là quy định về tội danh khủng bố của Việt Nam còn chưa chặt chẽ, có thể bị chính trị hóa, hoặc là do Việt Nam và nước hữu quan chưa ký kết các Hiệp định về dẫn độ nên chưa có cơ sở pháp lý để dẫn độ cho Việt Nam. Ở cấp độ khu vực, các nước ASEAN đã cùng nhau ký Hiệp định về Tương trợ tư pháp trong các vấn đề hình sự, nhưng bản thân Hiệp định này cũng chưa có các quy định về vấn đề dẫn độ (6). Trước thực tế như vậy, việc Công ước của ASEAN về Chống khủng bố có hiệu lực sẽ đem lại cho các cơ quan hữu quan của Việt Nam một cơ sở pháp lý cần thiết để yêu cầu các nước liên quan xét xử nghiêm minh hoặc dẫn độ bọn khủng bố để Việt Nam xét xử. Đồng thời, sau khi Công ước có hiệu lực, trong đàm phán với các nước ASEAN hữu quan về các Hiệp định song phương về dẫn độ, Việt Nam có quyền yêu cầu đưa các tội khủng bố vào danh mục các tội sẽ phải dẫn độ. Các bên hữu quan không có lý do từ chối vì nghĩa vụ đó đã được thể hiện trong khoản 2 Điều XIII của Công ước ASEAN về Chống khủng bố.


Có thể có ý kiến lý giải rằng, không riêng gì Việt Nam mà một số nước ASEAN khác cũng chưa phê chuẩn, phê duyệt Công ước. Đó là sự thực không thể không thừa nhận. Tuy nhiên ở đây chúng ta cần phải làm rõ một điều là nhu cầu của các nước ASEAN khác trong việc vận dụng các quy định của Công ước ASEAN về Chống khủng bố có phần khác Việt Nam: thời gian qua ở một số nước ASEAN có xảy ra một số vụ khủng bố và thiệt hại về người cũng rất lớn, nhưng trong các vụ khủng bố đó thủ phạm thường là công dân của nước nơi xảy ra khủng bố và thủ phạm cư trú ngay trên lãnh thổ của các nước đó. Trong các vụ việc như vậy, không nảy sinh yêu cầu dẫn độ thủ phạm các vụ khủng bố, không nảy sinh vấn đề hợp tác để xử lý và cũng không nảy sinh các phức tạp trong xử lý vấn đề dẫn độ. Đối với các nước đó, nhu cầu vận dụng Công ước của ASEAN để xử lý vụ việc không thật bức bách như các vụ việc khủng bố chống lại Nhà nước Việt Nam, cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài. Một khi nhu cầu không mang tính cấp bách, các cơ quan chức năng của các nước liên quan vừa chuẩn bị vừa nghe ngóng. Nếu các nước có quan tâm nhiều chưa phê chuẩn, phê duyệt thì việc xem xét của họ cũng sẽ từ từ, còn nếu nhiều nước ký kết phê chuẩn, phê duyệt thì họ sẽ đẩy nhanh thủ tục của mình. Điều này cũng đã được thể hiện rất rõ trong thực tiễn quốc tế cũng như thực tiễn ASEAN mà minh chứng sinh động nhất là quá trình phê chuẩn Hiến chương ASEAN trong năm 2008. Cuối năm 2007, khi bản Hiến chương ASEAN vừa được ký, đại diện của nước thành viên X nói rằng nước đó sẽ không phê chuẩn Hiến chương nếu nước thành viên Y không thực hiện các biện pháp cần thiết cải thiện tình hình nội bộ ở nước Y. Ý kiến đó ở mức độ nhất định có gây tâm lý bi quan về triển vọng của việc Hiến chương ASEAN có hiệu lực sớm. Nhưng diễn biến sau đó cho thấy, sau khi Hiến chương được một số nước thành viên ASEAN phê chuẩn, các cơ quan có thẩm quyền của nước X nói trên đã khẩn trương phê chuẩn Hiến chương (họ cũng không chờ việc thực hiện điều kiện mà họ đã nêu ra trước đó) và kết quả là cả 10 thành viên ASEAN đều đã phê chuẩn bản Hiến chương trong vòng 01 năm.


Ý nghĩa của việc Việt Nam sớm phê chuẩn Công ước ASEAN về chống khủng bố:


Trong bối cảnh như đã trình bày trên đây, việc Nhà nước Việt Nam sớm phê chuẩn hoặc phê duyệt Công ước không chỉ đáp ứng các nhu cầu của Việt Nam, mà còn có ý nghĩa tạo thêm xung lực để thúc đẩy các nước thành viên ASEAN còn lại triển khai việc phê chuẩn hoặc phê duyệt Công ước. Một điểm thuận của Công ước ASEAN về chống khủng bố là Công ước không đòi hỏi phải có đủ 10 nước phê chuẩn hoặc phê duyệt mới có hiệu lực. Sau khi Việt Nam phê chuẩn hoặc phê duyệt Công ước, trong hoạt động tại các cơ chế liên quan của ASEAN, Việt Nam sẽ có cơ sở để trao đổi ý kiến thúc đẩy các nước khác phê chuẩn hoặc phê duyệt Công ước.


Theo quy định của Công ước, các nước thành viên ASEAN được quyền lựa chọn hoặc là thủ tục phê chuẩn (ratification) hoặc là thủ tục phê duyệt (approval) (7). Vậy Việt Nam cần chọn thủ tục nào cho thỏa đáng? Phù hợp với các quy định pháp lý của Việt Nam, Công ước này cũng có thể trình lên để Chính phủ Việt Nam phê duyệt. Tuy nhiên xét tính chất và tầm quan trọng của Công ước cũng như thực tiễn ký kết điều ước quốc tế của Việt Nam lâu nay, việc Chủ tịch nước phê chuẩn sẽ thỏa đáng hơn là Chính phủ phê duyệt. Như vậy, cho đến nay điều kiện đã thật sự chín muồi để các bộ, ngành hữu quan khẩn trương kiến nghị Chính phủ trình Chủ tịch nước phê chuẩn Công ước ASEAN về Chống khủng bố nhằm sớm đưa các quy định của Công ước đi vào cuộc sống./.

Previous
Next Post »