1. Thành tựu
Có thể nói trong những năm qua thì góp phần ổn định giá trị đồng tiền là thành tựu đáng ghi nhận nhất, bằng các công cụ điều tiết, NHNN đã kiểm soát chặt chẽ khối lượng tiền cung ứng hàng năm và đó được xem như bàn tay hữu hiệu đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, ổn định sức mua của đồng tiền Việt Nam, làm cho giá cả ổn định, đời sống người dân không ngừng được cải thiện. Ví dụ: năm 2008, thu nhập bình quân đầu người đạt và vượt 1000 USD/năm [1].
Năm 2008 là năm đầy “sóng gió” của thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng, nhưng với những bước đi vừa thận trọng, quyết liệt, vừa linh hoạt, táo bạo ngành Ngân hàng Việt Nam đã vượt qua những khó khăn, thách thức chưa từng có để giữ ổn định thị trường tiền tệ và bảo đảm an toàn hệ thống, đồng thời góp phần quan trọng kiềm chế thành công lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bước đầu ngăn chặn đà suy giảm kinh tế của nước ta. Tuy có thời điểm thị trường tiền tệ diễn biến không thuận lợi và cũng còn một vài ý kiến chưa đồng thuận cao với các biện pháp điều hành của NHNN, nhưng có thể thấy kết quả phát triển kinh tế – xã hội năm 2008 có đóng góp quan trọng, thiết thực của ngành Ngân hàng nói chung và NHNN nói riêng. NHNN đã có các biện pháp, chính sách để điều hành, ổn định tỷ giá, hạ lãi suất cơ bản, giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn để sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất – nhập khẩu, rà soát và kiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại. Cụ thể là:
Sử dụng biện pháp phát hành tín phiếu NHNN bắt buộc để hút tiền về từ lưu thông (Quyết định số 346/QĐ-NHNN ngày 13/2/2008). Biện pháp này tạo nhiều thuận lợi hơn cho các tổ chức tín dụng so với biện pháp tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc vì lãi suất tín phiếu cao hơn lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc cùng thời điểm và đối tượng mua tín phiếu chỉ là các TCTD có quy mô huy động vốn lớn (số dư vốn huy động bằng VND đến ngày 31/01/2008 trên 1.000 tỷ đồng), trong đó không bao gồm Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn, quỹ tín dụng nhân dân. Từ ngày 21/10/2008, NHNN đã cho phép các tổ chức tín dụng thanh toán trước hạn tín phiếu NHNN bắt buộc nếu có nhu cầu.
Quy định trần lãi suất huy động VND để chấm dứt cuộc chạy đua tăng lãi suất huy động giữa các tổ chức tín dụng. Biện pháp này được NHNN áp dụng từ ngày 26/2/2008 đến ngày 15/5/2008. Đây là biện pháp hành chính cần thiết và kịp thời nhằm lập lại trật tự và giữ ổn định thị trường tiền tệ, được Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam rất ủng hộ. Đồng thời, NHNN hỗ trợ vốn ngắn hạn cho các tổ chức tín dụng gặp khó khăn về thanh khoản thông qua công cụ tái cấp vốn.
Ban hành cơ chế điều hành lãi suất cơ bản mới. Sau 6 năm thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận, kể từ ngày 19/5/2008, NHNN đã thay đổi cơ chế điều hành lãi suất cơ bản phù hợp với Luật NHNN Việt Nam và Bộ luật Dân sự, trong đó các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh bằng VND đối với khách hàng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố trong từng thời kỳ. Với cơ chế này, lãi suất cơ bản đã trở thành công cụ điều hành chính sách tiền tệ hữu hiệu của NHNN và thu hút sự quan tâm đặc biệt không chỉ của các tổ chức tín dụng mà của cả nền kinh tế.
Lãi suất cơ bản được điều chỉnh linh hoạt chưa từng có. Trước những diễn biến nhanh, phức tạp của tình hình kinh tế trong và ngoài nước năm 2008, NHNN đã điều chỉnh lãi suất cơ bản tới 8 lần, trong đó có 3 lần điều chỉnh tăng (từ mức 8,25%/năm lên 8,75%, 12% và 14%/năm) nhằm kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng dư nợ tín dụng; 5 lần điều chỉnh giảm (từ 14%/năm xuống 13%, 12%, 11%, 8,5% và 7%/năm) nhằm nới lỏng từng bước chính sách tiền tệ, góp phần ngăn chặn đà suy giảm kinh tế. Với sự điều chỉnh này, mức ấn định lãi suất cho vay tối đa của các TCTD đối với khách hàng đã giảm từ mức 21%/năm xuống 12,75%/năm; mặt bằng lãi suất cho vay VND của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng hiện nay thấp hơn so với cuối năm 2007.
Lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc và tín phiếu NHNN bắt buộc phát huy tác dụng đắc lực trong việc thực thi chính sách tiền tệ. Để hỗ trợ tăng trưởng hợp lý trong bối cảnh kiềm chế lạm phát là ưu tiên hàng đầu, NHNN đã điều chỉnh tăng lãi suất tín phiếu bắt buộc (từ 7,8% lên 13%/năm kể từ ngày 1/7/2008) và lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc (từ 1,2% lên 3,6%/năm kể từ ngày 1/9/2008, lên 5%/năm kể từ ngày 01/10/2008 và lên 10%/năm kể từ ngày 21/10/2008) nhằm khuyến khích các tổ chức tín dụng điều chỉnh giảm lãi suất cho vay thấp hơn mức ấn định lãi suất kinh doanh tối đa. Đến thời điểm hiện nay, lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc là 7%/năm và lãi suất tín phiếu NHNN bắt buộc là 4,5%/năm.
Biên độ ấn định tỷ giá mua – bán đồng Đôla Mỹ của các tổ chức tín dụng được nới rộng tới 3 lần trong năm. Để tạo sự chủ động, linh hoạt hơn cho các tổ chức tín dụng trong ấn định lãi suất kinh doanh trước diễn biến cung cầu ngoại tệ có nhiều biến động phức tạp, khó lường, trong năm 2008, NHNN đã 3 lần nới rộng biên độ ấn định tỷ giá mua – bán đồng Đôla Mỹ của các tổ chức tín dụng từ mức ±0,75% lên ±1%, ±2% và ±3% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng. Đây là tần suất nới rộng chưa từng có từ trước tới nay.
Tỷ giá bình quân liên ngân hàng 2 lần được điều chỉnh tăng với mức độ lớn. Trước tình trạng nhập siêu trong 5 tháng đầu năm 2008 tăng cao làm ảnh hưởng đến các cân đối vĩ mô, cùng với các biện pháp can thiệp khác, ngày 10/6/2008, NHNN đã điều chỉnh tăng 2% tỷ giá bình quân liên ngân hàng (từ 16.139VND/USD lên 16.461VND/USD). Biện pháp này đã tạo ra mặt bằng tỷ giá mới, góp phần khuyến khích xuất phần và hạn chế hiệu quả nhập siêu. Cũng với mục đích đó, ngày 25/12/2008, NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng thêm 3% (lên mức 16.989VND/USD) nhằm tạo ra mặt bằng tỷ giá mới cho năm 2009, góp phần hỗ trợ xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu, đảm bảo sự bền vững của cán cân thanh toán quốc tế và hạn chế tâm lý kỳ vọng tỷ giá tăng cao, tạo điều kiện cho doanh nghiệp ổn định sản xuất, kinh doanh.
2. Tồn tại.
Chức năng hoạch định chiến lược và phát triển các công cụ gián tiếp của CSTT còn ở thời kỳ sơ khai. Bên cạnh đó, các nghiệp vụ về tái cấp vốn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, công cụ dự trữ bắt buộc chưa được quy định cụ thể. Quy định việc NHNN xác định và công bố tỷ giá hối đoái đã không còn phù hợp với thực tế. Một số quy định chưa rõ ràng nên dẫn đến việc suy luận theo nhiều cách hiểu khác nhau và dễ khiến cho người thực hiện nhầm lẫn giữa nghiệp vụ với nhiệm vụ hay trách nhiệm.
Các nội dung cơ bản trong quản lý ngoại hối đối với các giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối, thị trường ngoại tệ và tỷ giá hối đoái,… chưa được đề cập nên NHNN thiếu cơ sở pháp lý để tham chiếu dẫn giải trong quá trình xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Bên cạnh đó, các khái niệm về quản lý ngoại hối chưa chính xác hoặc không còn phù hợp với thực tế cũng như thông lệ quốc tế, ví dụ như khái niệm về ngoại hối, tỷ giá, dự trữ ngoại hối nhà nước…
Một số quy định cụ thể về hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở, về quản lý kinh doanh vàng cần được xem xét để huỷ bỏ hoặc phải xây dựng lại (Điều 9, 18, 38…) cho phù hợp với thông lệ quốc tế và tình hình thực tiễn.
Mặc dù nội dung và hệ thống các công cụ chính sách tiền tệ quốc gia đã liên tục được hoàn thiện theo hướng ngày càng giảm dần sự can thiệp trực tiếp của NHNN vào các hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng nhưng các quy định về vận hành công cụ chính sách tiền tệ như chiết khấu, tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất cơ bản… vừa quá chi tiết, vừa không rõ ràng, thậm chí chưa chính xác (ví dụ như nghiệp vụ tái cấp vốn bao gồm cả việc cho vay lại theo hồ sơ tín dụng). Ngoài ra, Luật hiện hành không có ràng buộc pháp lý rõ ràng về mục đích, đối tượng, tình huống và chế tài của việc sử dụng các công cụ CSTT.
Ngoài ra, một số công cụ quan trọng chưa được diễn đạt chặt chẽ, chưa hoàn thiện hoặc chưa có quy định rõ về cơ chế và chế tài sử dụng mà mới chỉ được đề cập dưới dạng liệt kê như: “cho vay lại theo hồ sơ tín dụng” (Điều 17), “tỷ giá hối đoái” (Điều 19), “dự trữ bắt buộc” (Điều 20), “nghiệp vụ thị trường mở” (Điều 21)…
Trong bài phát biểu của mình tại Quốc hội, Đại biểu Nguyễn Lân Dũng cho rằng: một nguyên nhân quan trọng là việc Thống đốc ngân hàng Nhà nước đã tăng lãi suất ngân hàng trong vòng 3, 4 tháng từ 7-8% lên đến 17-18% dẫn đến dư nợ tín dụng tăng gấp đôi và tất yếu dẫn đến lạm phát.
Điều 474 của Bộ luật dân sự quy định lãi suất ngân hàng cho vay không được quá 150% so với lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước công bố[2].
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả của CSTTQG.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đề ra:“Mục tiêu của chính sách tiền tệ trong 5 năm tới là ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát, góp phần tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an ninh hệ thống các ngân hàng và tổ chức tín dụng. Kết hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ với chính sách tài khoá để ổn định kinh tế vĩ mô, tăng dự trữ ngoại tệ, khuyến khích doanh nghiệp và nhân dân tiết kiệm, đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
Xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường, khẩn trương thực hiện đầy đủ các chuẩn mực và thông lệ quốc tế về hoạt động ngân hàng… Thực hiện chính sách lãi suất thoả thuận theo nguyên tắc thị trường và đi tới loại bỏ hoàn toàn qui định hành chính với lãi suất ngoại tệ. Tiếp tục thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt theo nguyên tắc thị trường với biên độ mở rộng hơn phù hợp với mức độ mở cửa thị trường tài chính và năng lực kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đổi mới chính sách quản lý ngoại hối theo hướng tự do hoá hoàn toàn giao dịch vãng lai, từng bước mở cửa các giao dịch vốn, thu hẹp và tiến tới xoá bỏ tình trạng sử dụng ngoại tệ làm phương tiện thanh toán trên lãnh thổ Việt Nam.
Sửa đổi Luật NHNN VN theo hướng nâng cao trách nhiệm và quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cải cách hệ thống thanh tra giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng và toàn bộ thị trường tiền tệ…”.
Cụ thể hóa đường lối chính sách của Đảng, vấn đề đầu tiên là phải sửa đổi Luật NHNN, và trong các dự thảo về sửa đổi bổ sung Ngân hàng nhà nước có đưa ra một số giải pháp để vận hành các biện pháp và công cụ thực hiện CSTT.
Về lãi suất cơ bản: Bỏ quy định về “lãi suất cơ bản” và bổ sung “các loại lãi suất điều hành khác” để phù hợp hơn với thực tiễn điều hành CSTT. Trong thời gian tới, cơ chế điều hành chính sách tiền tệ phải hướng vào việc tác động đến lãi suất ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng thay cho việc điều hành dựa trên việc quản lý khối lượng tiền (và lãi suất) như hiện nay. Theo đó, lãi suất ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng sẽ là mục tiêu trung gian và Ngân hàng Nhà nước sẽ phải sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ gián tiếp của mình như lãi suất tái chiết khấu hoặc các nghiệp vụ trên thị trường mở để tác động đến lãi suất mục tiêu đó. Trong cơ chế này, lãi suất cơ bản không được coi là một công cụ chính sách tiền tệ. Điều kiện để có thể thực hiện được cơ chế này là việc tự do hóa lãi suất, cho phép lãi suất (cả lãi suất cho vay của TCTD đối với khách hàng và lãi suất cho vay giữa các TCTD với nhau trên thị trường liên ngân hàng) được hình thành trên cơ sở cung cầu, không chịu bất kỳ trần lãi suất nào để có thể sử dụng như những tín hiệu về thị trường cho cơ quan điều hành, thực thi chính sách tiền tệ.
Bổ sung quy định về thẩm quyền của NHNN trong việc quy định cơ chế điều hành lãi suất trong quan hệ giữa TCTD và khách hàng. Nếu coi lãi suất là giá của đồng tiền thì về nguyên tắc NHNN không nên can thiệp vào mức giá cả mà nên để thị trường quyết định. “Tự do hóa lãi suất” trong hoạt động ngân hàng là một định hướng đã được nêu rõ trong Nghị quyết của Đảng. Do đó, NHNN kiên trì đề nghị không áp đặt trần lãi suất đối với hoạt động của các TCTD và để giá cả phản ánh được cung cầu thực sự về tín dụng. Tuy nhiên, cần có quy định để trong trường hợp có những diễn biến bất thường dẫn đến sự mất lòng tin giữa các TCTD với nhau, giữa các TCTD và khách hàng thì NHNN có quyền can thiệp thông qua các cơ chế của mình để ổn định mức lãi suất và qua đó tránh gây đổ vỡ cho thị trường, gây tác động bất lợi cho nền kinh tế. Khoản 2 Điều 15 dự thảo: Trong trường hợp thị trường có diễn biến bất thường, Ngân hàng Nhà nước quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau và với các khách hàng theo quy định của Luật này và Luật Các tổ chức tín dụng[3].
Trong bối cảnh thị trường tiền tệ, ngân hàng đã phát triển khá mạnh cả về quy mô và số lượng, các TCTD cần được quyền và có trách nhiệm trong việc xác định lãi suất trong giao dịch với khách hàng cũng như với các TCTD khác dựa trên nguyên tắc thị trường và lãi suất điều hành do NHNN công bố. Nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với định hướng đã được nêu tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, “thực hiện chính sách lãi suất thỏa thuận theo nguyên tắc thị trường”. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập sâu, rộng và rút kinh nghiệm từ bài học của cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới vừa qua thì Nhà nước phải quản lý và kiểm soát được lãi suất của các TCTD, nhằm tạo sự ổn định cho hoạt động tiền tệ, tín dụng nói riêng và ổn định kinh tế nói chung. Do vậy, Uỷ ban Kinh tế tán thành việc cho phép NHNN quy định cơ chế điều hành lãi suất của các TCTD khi cần thiết như quy định tại Khoản 2 Điều 15 của dự thảo Luật này.
Ngoài ra, Ủy ban Kinh tế cũng đồng tình với quan điểm của Ban soạn thảo về việc không quy định về lãi suất cơ bản trong dự thảo Luật. Điều này là hợp lý do căn cứ để xác định lãi suất cơ bản không rõ, trong khi NHNN quy định nhiều loại lãi suất khác để phục vụ công tác điều hành (như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu,…). Tuy nhiên, điều này lại dẫn đến việc các quy định liên quan đến lãi suất cơ bản trong Bộ luật Dân sự (Điều 474, 475 và 476) sẽ không còn căn cứ để thực hiện. Vì vậy, Uỷ ban Kinh tế đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, trình Quốc hội sửa đổi các quy định liên quan đến lãi suất cơ bản trong Bộ luật Dân sự theo hướng: Khống chế mức lãi suất cao nhất trong các quan hệ dân sự (không liên quan đến lãi suất của TCTD) trên cơ sở căn cứ vào một loại lãi suất do NHNN công bố để ngăn ngừa tình trạng cho vay nặng lãi trong nhân dân[4].
Về tỷ giá hối đoái: Điều 16 (sửa đổi, bổ sung): bổ sung quy định “quyết định chế độ tỷ giá, cơ chế điều hành tỷ giá” nhằm nâng cao thẩm quyền của NHNN trong điều hành chính sách tiền tệ.
Về dự trữ bắt buộc: Bỏ quy định về giới hạn tỷ lệ dự trữ bắt buộc (0% – 20%) để đảm bảo sự linh hoạt trong điều hành CSTT của NHNN, đặc biệt khi chúng ta mở cửa tiếp nhận nhiều nguồn vốn; đồng thời nâng cao thẩm quyền của NHNN trong việc trả lãi đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc.
Về nghiệp vụ thị trường mở: Bổ sung quy định tại khoản 2 nhằm nâng cao sự chủ động của NHNN trong việc sử dụng các công cụ CSTT. Ngân hàng Nhà nước quy định loại giấy tờ có giá được phép giao dịch thông qua nghiệp vụ thị trường mở trong từng thời kỳ.
Bên cạnh đó, cần tạo ra sự chủ động của NHNN trong việc hoạch định và thực hiện chính sách CSTT. Việc thực hiện CSTT có tác dụng to lớn trong việc góp phần tăng trưởng kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền, bảo đảm quốc phòng an ninh và nâng cao đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, cũng như NHTW ở các quốc gia đang phát triển khác, vị thế pháp lý của NHNN Việt Nam vẫn còn bị lệ thuộc lớn vào các quan hệ hành chính, trong đó chức năng của NHNN được xác định thiên về quản lý nhà nước và chưa chú trọng đầy đủ tới chức năng điều hành CSTT quốc gia như một NHTW tương đối độc lập với chính phủ. Do vậy vấn đề đặt ra ở đây là cần phải hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của NHNN trong việc thực hiện CSTT quốc gia, chú ý tạo ra sự độc lập tương đối với Chính phủ. Bởi lẽ, khi NHNN phải chịu sự chi phối đối với các quyết định trong quá trình thực hiện chính sách tiền tệ như: quyết định về cung ứng tiền, lãi suất, tỉ giá hối đoái, tín dụng… thì các công cụ điều tiết này sẽ không còn những tác dụng tích cực và nhạy bén như bản chất vốn có của nó.
[1] http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/luan-van-chinh-sach-tien-te-voi-muc-tieu-on-dinh-gia-ca.
[2] Bản tổng hợp thảo luận tại hội trường quốc hội khóa XII – kỳ họp thứ 03
[3] Thuyết minh chi tiết dự thảo LuậtNHNN sửa đổi
[4] Báo cáo thẩm tra số 1134/BC-UBKT12 của Ủy ban kinh tế về Dự án Luật NHNN sửa đổi.
EmoticonEmoticon